Blog Archive - SAGE - Applied Marketing Academy

Xà bông Cô Ba: Sự trở lại của huyền thoại từ thời vàng son

Written by

Nhiều thương hiệu “vang bóng vàng son” như kem đánh răng Dạ Lan, xà bông Cô Ba, mỹ phẩm Thorakao, bông Bạch Tuyết, diêm Thống Nhất, mì Miliket… qua bao biến cố thương trường, không ít thương hiệu lụi tàn, nhưng cũng có thương hiệu phát triển vững bền nhờ tài năng, khát vọng và niềm tin vào sức sống của sản phẩm trong nước.

Xà bông Cô Ba huyền thoại của người Việt từ những năm đầu thế kỷ 20 sẽ tái xuất trong năm 2018, được tung ra thị trường để cạnh tranh với “chị em” xà bông thơm toàn cầu.

Vang bóng một thời

Khi nhắc đến các thương hiệu Việt “vang bóng một thời”, nhiều người hay nói tới kem đánh răng Dạ Lan hay xà bông Cô Ba (in hình ảnh đương kim hoa hậu thời bấy giờ). Những sản phẩm tiêu dùng thiết yếu hàng ngày được ưa chuộng khoảng đầu thế kỷ XX. Cục xà bông màu xanh mát in hình một người phụ nữ Việt Nam với tóc búi cao, trán rộng từng làm mưa làm gió trên thương trường lúc bấy giờ, gắn liền với câu chuyện về doanh nhân Trương Văn Bền.

Ông Trương Văn Bền (1883 – 1956) sinh ra tại Chợ Lớn (Sài Gòn), trong một gia đình có truyền thống làm nghề thủ công. Ông mở hãng xà bông Cô Ba từ trước năm 1932, tọa lạc tại số 40 chợ Kim Biên, quận 5, TPHCM. Xà bông Cô Ba làm từ dầu dừa, xút và hương liệu, nhưng ông có bí quyết mua hương liệu tạo mùi thơm lâu bền. Xưởng của ông ở Chợ Lớn, mỗi tháng sản xuất khoảng 1.500 tấn dầu dừa và khoảng 600 tấn xà bông. Ngoài chất lượng sản phẩm, ông Bền còn có những cách quảng cáo vô cùng ấn tượng thời bấy giờ.

Ông cho vận động dùng hàng nội với câu khẩu hiệu “Người Việt Nam nên xài xà bông của Việt Nam”, phủ dày đặc lên xe điện, xe hơi, áp phích, áo cầu thủ bóng đá, len lỏi cả vào các thể loại âm nhạc. Thậm chí, ông còn cho người đi thành từng tốp nhỏ, hàng ngày qua các tiệm tạp hóa hỏi mua xà bông Cô Ba để người khác chú ý. Dần dà, sản phẩm của ông được nhiều người biết đến và ghi nhớ, tin dùng.

Ngoài Việt Nam, xà bông Cô Ba được dùng rộng rãi ở Lào và Campuchia, xuất khẩu qua Hong Kong và một số các nước châu Phi. Đến năm 1977, công ty xà bông Cô Ba chuyển sang hình thức công tư hợp doanh có tên là nhà máy Xà bông Việt Nam. Năm 2004, công ty cổ phần hóa, đổi tên thành Công ty cổ phần Sản xuất và Thương mại Phương Đông do Tập đoàn Hóa chất Việt Nam nắm giữ hơn 62% vốn. Tới năm 2014, Tập đoàn này thoái vốn hoàn toàn.

Trong bối cảnh chuyển giao của thời cuộc và sự cạnh tranh với các sản phẩm dầu gội, sữa tắm thương hiệu ngoại, xà bông Cô Ba mất dần thị phần, không còn được sử dụng nhiều trên thị trường. Công ty Phương Đông cũng ngừng sản xuất sản phẩm này hơn một năm nay.

Khôi phục lại hương xưa

Vừa qua, Công ty cổ phần Đầu tư thương mại bất động sản An Dương Thảo Điền cho biết đang khôi phục thương hiệu Xà bông Cô Ba để đưa sản phẩm này trở lại thị trường trong năm nay. Giữa tháng 3 vừa qua, tại phiên họp Đại hội đồng cổ đông thường niên, ông Nguyễn Nhân Bảo – Tổng giám đốc công ty chia sẻ: “Sản phẩm xà bông Cô Ba theo khảo sát đang được chào đón nhiều ở phía Nam, nhất là các tỉnh miền Tây Nam Bộ. Xà bông Cô Ba là một thương hiệu vừa có ý nghĩa về mặt kinh doanh, đem lại lợi nhuận, vừa có ý nghĩa về mặt lịch sử, là trách nhiệm của doanh nhân trong việc lưu giữ, phát triển. Hiện Cty đĐang thiết lập, khôi phục nhân sự chủ chốt, trang thiết bị dây chuyền sản xuất, dự kiến ra mắt sản phẩm vào quý II năm nay vì đây là mảng thương hiệu kinh doanh tiềm năng”.

Cũng theo ông Bảo, Sự trở lại của thương hiệu xà bông Cô Ba rất ý nghĩa, vì chỉ riêng câu chuyện về ông Trương Văn Bền đã là một huyền thoại của người Việt Nam. Đồng thời, sức ảnh hưởng của thương hiệu này trong nhận thức của người Việt không hề nhỏ.

Khơi dậy được niềm tự hào dân tộc, đa dạng hóa sản phẩm của người bản xứ. Hầu hết giới chuyên gia nhận định thị trường hóa mỹ phẩm nước ta ngày một trở nên sôi động, đặc biệt là khi Việt Nam tham gia hàng loạt các hiệp định thương mại tự do, đưa thuế nhập khẩu loại hàng hóa này được về mức 0 – 5%.

Theo số liệu thống kê của Mintel, tiềm năng kinh doanh mỹ phẩm tại Việt Nam là rất lớn khi thị trường mỹ phẩm năm 2015 đạt 1,2 tỷ USD, năm 2016 đạt 1,78 tỷ USD và dự báo năm 2018 sẽ cán mốc 2,35 tỷ USD; thậm chí nếu tính chung toàn thị trường sản xuất, kinh doanh hàng tiêu dùng nhanh thì mảnh đất này thực sự màu mỡ.

Nguồn: Báo Tiền Phong

Có thể bạn quan tâm:

> Đại gia bán lẻ AEON và 3 thương vụ không thành công ở Việt Nam

> Đánh vào tâm lý chung, Coca Cola tìm ra chiến lược lôi kéo giới trẻ thành công

> Starbuck “chơi” an toàn với các thiết kế trong mùa lễ hội 2018


Tổng hợp những cách tối ưu hiệu quả Digital Marketing

Written by

Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ hiện đại, các doanh nghiệp hiện nay đã và đang thay đổi để thích nghi, tồn tại và phát triển. Các phương pháp và các công cụ Digital Marketing đã không còn quá xa lạ mà đã và đang được áp dụng mạnh mẽ vào hoạt động marketing & kinh doanh của doanh nghiệp.

Tuy nhiên, theo một nghiên cứu từ Smartinsights.com năm 2015 từ 765 thành viên là các doanh nghiệp thuộc mọi quy mô thì chỉ có 1/3 đến 1/4 các doanh nghiệp là liên tục tối ưu chiến dịch Digital Marketing hoặc thường xuyên điều chỉnh các kênh truyền thông mà họ đang sử dụng. Nhưng có đến 10 – 20% các doanh nghiệp không bao giờ làm điều đó.

Nhiều công cụ phổ biến trên thế giới đã được các nhà tiếp thị chiến lược áp dụng tại thị trường Việt Nam như Social Media Marketing, Email Marketing, Video Marketing, Mobile Marketing… Tuy nhiên, không phải bất kì doanh nghiệp nào cũng nhận thức việc cần phải tối ưu liên tục từng mẫu quảng cáo, từ chiến dịch trong từng kênh truyền thông để nâng cao tỷ lệ chuyển đổi đem lại hiệu quả kinh doanh thật sự cho doanh nghiệp.

Sau đây là một số phương pháp tối ưu hiệu quả Digital Marketing theo đúc kết của nhiều chuyên gia:

Xác định mục tiêu chiến dịch

Trong một chiến dịch digital marketing, một số nội dung sẽ chuyển đổi người xem thành khách hàng (chẳng hạn: nội dung trang landing page bán hàng), trong khi một số còn lại sẽ giúp tăng độ nhận diện thương hiệu của bạn trên Internet (như nội dung về nhãn hàng trên kênh social media). Chính vì thế, bạn cần xác định những yếu tố chủ chốt quan trọng nhất mà bạn cần phải theo dõi và đánh giá trong chiến dịch của mình.

Các yếu tố quan trọng nhất khi đánh giá và đo lường hiệu quả chiến dịch marketing gồm có:

  • Độ nhận diện thương hiệu
  • Tỉ lệ chuyển đổi từ độc giả thành lead
  • Tỉ lệ chuyển đổi từ lead thành khách hàng
  • Mức độ tương tác
  • Độ trung thành/giữ chân khách hàng
  • Traffic trang web
  • Số đơn hàng
  • Số khách hàng quay lại, hay số người quay lại website

Cho dù có là chỉ số gì, bạn cũng cần nhớ rằng cần phải đo đếm hiệu quả cho từng nội dung đưa ra trong chiến dịch. Và mỗi nội dung nên được đánh giá hiệu quả bằng ít nhất là 2 yếu tố như trên (hoặc nhiều yếu tố khác nữa). Chẳng hạn, với ví dụ về social media ở trên, bạn có thể chọn ra các yếu tố đo lường hiệu quả là mức độ tương tác và độ nhận diện thương hiệu.

Phân tích chỉ số website

Hãy chắc rằng bạn có thể theo dõi được các chỉ số website theo ngày, tuần, hay tháng. Bạn có thể căn cứ vào một số câu hỏi gợi ý dưới đây để đưa ra báo cáo hiệu quả nội dung trên website:

  • Traffic đến website của bạn tăng/giảm như thế nào theo tuần, tháng, năm?
  • Ngày nào trong tuần thu được nhiều traffic nhất?
  • Thời điểm nào trong ngày thu được lượng traffic cao nhất?
  • Lượng traffic tập trung cao nhất tại địa điểm nào?
  • Số lượng khách mới ghé thăm và khách quay lại lần 2 đang là bao nhiêu? Tỉ lệ giữa 2 nhóm này là bao nhiêu phần trăm?
  • Có bao nhiêu người đến từ thiết bị di động, máy bàn?
  • Trang nào trên website có lượng traffic cao nhất? Trang nào có lượng traffic thấp nhất?
  • Thời gian đọc trung bình trên website của bạn là bao nhiêu? Thời gian đọc trung bình trên một trang là bao nhiêu?

Từ những gợi mở trên đây, bạn đã có hình dung rõ ràng hơn về việc cải thiện hiệu quả nội dung hiện tại, cũng như tối ưu hiệu quả chiến dịch digital marketing của mình. Không những vậy, dựa trên những thông tin đó, bạn có thể biết được ngay những nội dung nào đang mang lại hiệu quả, và những nội dung nào cần phải cải thiện.

Hiệu quả inbound link

Nếu bạn đang chạy chiến dịch marketing thông qua nội dung trên các trang nội bộ (chẳng hạn như trang sản phẩm, trang blog, trang thông tin,…) dẫn link đến trang landing page bán hàng, bạn hãy theo dõi traffic, lượng lead, cũng như lượng đơn hàng đến từ các link này để đảm bảo kiểm soát được chất lượng lead và đơn hàng thu được. Nếu không biết hiệu quả của mình đến từ đâu, thì bạn khó có thể đo đếm và tối ưu hiệu quả nội dung cũng như chiến dịch marketing của mình. Trong trường hợp bạn thuê marketing agency bên ngoài để thực thi chiến dịch, thì các công cụ đo đếm hiệu quả nội dung inbound cũng sẽ cho bạn biết liệu agency đó có đang làm hiệu quả hay không.

Phân tích social media

Mỗi kênh social media đều có công cụ phân tích riêng để giúp bạn đánh giá hiệu quả chiến dịch trên kênh social media. Một điểm trừ của social media đó là bạn khó có thể đo được lượng lead, lượng đơn hàng đến từ kênh này. Nhưng ngoài ra, có rất nhiều chỉ số khác mà bạn có thể kiểm soát được, chẳng hạn như:

  • Lượng traffic tuần
  • Các bài viết có lượng tương tác cao nhất/lượng like cao nhất/reach nhiều nhất
  • Lượng tăng fan/follower
  • Tổng lượng like, share, và comment nhận được

Hỏi khách hàng

Ngoài các hình thức đo lường hiệu quả qua công cụ trên các kênh digital marketing, bạn còn có thể áp dụng cách thủ công đó là hỏi trực tiếp khách hàng. Ngoài các kênh bạn định sẵn, khách hàng có vô tình biết đến thương hiệu hay mua hàng của bạn qua vô vàn các kênh khác như qua giới thiệu của bạn bè, vô tình nghe trên đài khi đang lái xe đi làm, hay qua các cuộc gọi mua hàng đến tổng đài của bạn, hay qua chatbot,… Để tránh bị bỏ sót thông tin, bạn có thể hỏi trực tiếp khách hàng khi họ mua hàng, hoặc thông qua survey,…

  • Đo đếm qua công cụ affiliate

Các công cụ đánh giá hiệu quả affiliate là công cụ khá hiệu quả và minh bạch để đánh giá chiến dịch marketing, đặc biệt là với các chiến dịch có liên kết qua kênh affiliate. Nhưng để các chỉ số hiệu quả thu về được chính xác, và giúp các publisher dễ dàng làm affiliate cho bạn, hãy như cung cấp đầy đủ thông tin liên hệ (SĐT, địa chỉ email), hay gắn nút “chia sẻ” lên tất cả các nội dung của bạn.

  • Doanh thu

Mục tiêu cuối cùng của chiến dịch marketing (đặc biệt là marketing đẩy doanh số) là doanh thu, đặc biệt là với các doanh nghiệp nhỏ. Thông qua doanh số thực tế thu được từ chiến dịch hiện tại, bạn có thể tối ưu chiến lược marketing ban đầu, dành nhiều thời gian hơn cho các kênh mang lại hiệu quả, và bỏ bớt các kênh đang không có hiệu quả, tối ưu chi phí trên các kênh mới, hay thậm chí là thử nghiệm thêm các kênh mà trước đây chưa từng chạy để xem liệu doanh thu có tăng lên hay không.

  • Chỉ số toàn chiến dịch

Khi đã xác định rõ ràng các chỉ số đo lường hiệu quả  trên từng kênh, bạn sẽ có cái nhìn chung về chỉ số cho toàn chiến dịch marketing. Dưới đây là “chỉ số vàng” về traffic từ các trang nội bộ của bạn tới trang bán hàng (theo Avinash Kaushik tại Google):

Traffic đến từ tìm kiếm: 40-50%

Traffic đến từ các nguồn giới thiệu/affiliate: 20%

Traffic đến thẳng trang bán hàng: 20%

Traffic đến từ chiến dịch marketing trên các kênh khác: 10%

Kết luận

Trên đây là một vài gợi ý có thể giúp bạn tối ưu hiệu quả chiến dịch digital marketing. Hãy luôn nhớ rằng, việc thực thi chiến dịch sẽ là vô nghĩa nếu bạn không thể đo đếm được hiệu quả của bạn, hay vô tình bỏ sót những chỉ số/thông tin quan trọng liên quan đến mục tiêu chiến dịch. Chúc bạn thành công!

Nguồn: Admicro

“Pampers Positive” cùng thông điệp “Chỉ mẹ mới biết. Chỉ Pampers mới hiểu”

Written by

“Pampers Positive” là chiến dịch trở lại của Pampers sau 3 năm im hơi lặng tiếng tại thị trường Việt Nam. Chiến dịch khuyến khích các bà mẹ Việt mạnh dạn vượt qua áp lực của quan niệm truyền thống về cách nuôi dạy con để tự tin nuôi con theo cách của riêng mình. Thông qua đó, chiến dịch cũng đề cao thiên chức làm mẹ trong thời kỳ hiện đại tại Việt Nam. Chiến dịch này cũng đã giúp cho P&G và agency MSL Việt Nam thắng giải tại In2 SABRE Award hạng mục “Chiến dịch truyền thông lan tỏa xuất sắc nhất” – Best Viral Campaign tại sự kiện Asia-Pacific In2 Innovation Summit được tổ chức vừa qua tại Singapore.

BỐI CẢNH THỊ TRƯỜNG

Tại Việt Nam, thị trường tã lót luôn có những biến chuyển sôi động giữa các thương hiệu trong lẫn ngoài nước. Bên cạnh việc cạnh tranh không ngừng nghỉ giữa 3 thương hiệu lớn được nhiều người tin dùng là Bobby, Pampers và Huggies, các nhãn hiệu nhỏ hơn cũng đã xuất hiện và góp phần vào thị trường tã lót Việt Nam. Trong bối cảnh đó, các nhãn hàng phải đối diện với việc làm thế nào để duy trì lòng tin, tăng cường lựa chọn của khách hàng đối với sản phẩm của họ. Và Pampers không phải là một ngoại lệ.

Là thương hiệu tã lót dành cho trẻ em, Pampers ra đời từ những năm 1950 tại Mỹ, dưới quyền sở hữu của công ty P&G. Có mặt khá lâu ở thị trường Việt Nam, Pampers cũng đã tạo được lòng tin, được nhiều mẹ Việt biết đến và chọn dùng. Nhưng suy cho cùng thì đây vẫn là thương hiệu nước ngoài, không hề có bất cứ sự gắn kết nào giữa thương hiệu này và những người mẹ Việt. Hầu hết các nhãn hiệu tã lót đều xây dựng đặc điểm cho dòng tã lót của mình là: “thoải mái, thông thoáng, khô ráo, an toàn cho làn da của bé” để khuyến khích các ông bố bà mẹ mua dùng cho con mình. Nếu vậy thì vấn đề lúc này là làm thế nào để cùng với những đặc tính đó nhưng thương hiệu Pampers có thể nổi bật hơn được chú ý hơn nữa? Pampers bắt đầu một chiến dịch mới nhằm hiểu rõ hơn trăn trở của những người làm mẹ.

Nhận thấy các bà mẹ Việt thường dành nhiều thời gian cho mạng xã hội và nội dung từ các trang mạng này có thể khiến họ rối tung lên. Các thông tin trên các phương tiện truyền thông, các cuộc đối thoại mang tính cộng đồng tại Việt Nam trước đây, phần lớn đều dành để nói về những đứa trẻ. Chưa có chương trình nào thật sự dành cho các bà mẹ chia sẻ nỗi lòng và những khó khăn họ đã, đang và sẽ gặp phải. Pampers đã tiến hành chiến dịch “Pampers Positive” lan tỏa trên các trang mạng xã hội bằng hình thức tạo ra những cuộc tranh luận, mang đến những thông tin tích cực, là nơi để các bà mẹ chia sẻ bí quyết, cách thức nuôi dạy con. Đây là chiến dịch trở lại của Pampers sau 3 năm im hơi lặng tiếng ở thị trường Việt Nam

BÀI TOÁN TỪ PHÍA NHÃN HÀNG

Là một trong những nhãn hiệu hàng đầu của công ty Proter & Gamble (P&G) về tã lót cho em bé. Trong suốt hơn 60 năm có mặt trên thị trường, nhà sản xuất đã không ngừng cải tiến Pampers trở thành loại tã lót cho trẻ em có nhiều ưu điểm nổi bật. Chất lượng ngày càng tốt hơn, kiểu dáng trở nên càng ưu việt, tiện lợi, đa dạng về chủng loại. Với nhiều ưu điểm kể trên, tã Pampers luôn có được lòng tin từ những bậc cha mẹ ở hàng trăm quốc gia mà nó đi đến, trong đó có Việt Nam.

Dù đây là sản phẩm dành cho trẻ em nhưng quyết định mua hàng thì phụ thuộc vào bố mẹ (đa số là những người mẹ). Tuy nhiên, chiến dịch “Positive Pampers” không đánh vào việc quảng bá sản phẩm. Pampers hiểu rằng làm mẹ là một công việc khó vô cùng, vì mẹ không thể nào biết hết tất cả nên đã tạo ra nơi để các bà mẹ trên khắp Việt Nam chia sẻ, học hỏi và tích lũy kinh nghiệm chăm con quý báu. Mẹ sẽ biết được những quan niệm chăm con truyền đời có còn đúng trong thời đại ngày nay hay không?

INSIGHT

Trong cuộc sống hiện đại, những người mang thiên chức làm mẹ phải lo toan tất cả mọi thứ trong gia đình. Người mẹ càng vất vả hơn khi bước vào giai đoạn mang thai và sau đó là chăm sóc con cái. Những quan niệm, cách thức nuôi dạy con theo kiểu truyền thống vẫn còn được duy trì. Thậm chí là nhiều bà mẹ đã vận dụng rất tốt các kiến thức nuôi dạy con theo cách truyền thống. Tuy nhiên, ở thời đại 4.0, mẹ Việt được tiếp cận nhiều với các phương tiện truyền thông. Những nội dung về cách chăm sóc con có nhan nhản khắp các kênh mạng xã hội với những ý kiến trái ngược nhau khiến các bà mẹ hoang mang, không biết nên tin vào đâu. Tiếc thay, những khó khăn, rắc rối mà mẹ đang gặp phải lại không được xã hội để tâm đến. Hầu hết truyền thông chỉ quan tâm đến vấn đề của các bé, không có nhiều chia sẻ để mẹ giảm bớt nỗi lo, gánh nặng tinh thần “làm sao để tốt cho con”.

CHIẾN LƯỢC

Nếu như trước đây, sứ mệnh của Pampers là luôn mang đến sự thoải mái, an toàn cho bé yêu của mẹ. Thì giờ đây, khi nhìn ra vấn đề mà các bà mẹ đang gặp phải trong quá trình nuôi và chăm sóc con, chiến dịch “Pampers Positive” được triển khai với chương trình chính mang tên “Chỉ mẹ mới biết. Chỉ Pampers mới hiểu”. Dựa vào insight: “Hầu hết các bà mẹ Việt dành nhiều thời gian cho mạng xã hội. Có vô số vấn đề khiến mẹ phải áp lực khi chăm sóc con…” Pampers đã tiếp cận những khó khăn của các bà mẹ, tiếp thêm cho mẹ niềm tin vào việc quan tâm, chăm sóc khách hàng của nhãn hiệu lâu đời này.

Ý TƯỞNG LỚN

“CHỈ MẸ MỚI BIẾT. CHỈ PAMPERS MỚI HIỂU”

Với chương trình “Chỉ Mẹ mới biết. Chỉ Pampers mới hiểu”, chiến dịch “Pampers Positive” từ nhãn hiệu tã lót nổi tiếng của P&G mong muốn mang đến cho những người mẹ Việt một môi trường để chia sẻ kinh nghiệm, bí quyết, cũng như mọi vấn đề khó khăn trong việc chăm sóc con cái. Thông qua đó, chiến dịch cũng đề cao thiên chức làm mẹ trong thời kỳ hiện đại tại Việt Nam.

  • Chỉ Mẹ mới biết: Chỉ mẹ mới biết những khó khăn mẹ đang gặp phải là gì. Chỉ mẹ mới biết con cần gì nhất và điều gì là tốt nhất cho con.
  • Chỉ Pampers mới hiểu: Chỉ Pampers mới hiểu được mẹ gặp khó khăn gì và tạo nơi cho mẹ chia sẻ, học hỏi kinh nghiệm từ những người khác, từ các chuyên gia. Chỉ Pampers bé của mẹ cần phải nhận được những điều gì tốt nhất.

Chiến dịch dài 4 tháng được Pampers triển khai bằng hình thức tạo ra một cuộc đối thoại sôi nổi trên mạng xã hội, thiết lập chuyên mục “Làm mẹ 2.0” trên trang Webtretho (diễn đàn dành cho bà mẹ lớn nhất Việt Nam), chương trình đối thoại trực tiếp với các chuyên gia. Đặc biệt là bộ ảnh “Chỉ mẹ mới hiểu” chạm đến trái tim người xem. Chiến dịch nhằm khuyến khích các bà mẹ Việt mạnh dạn vượt qua áp lực của những kỳ vọng truyền thống và quan niệm truyền đời về cách nuôi con để tự tin nuôi con theo cách của riêng mình.

THỰC THI

Chuyên mục “Làm mẹ 2.0” kết hợp với diễn đàn dành cho bà mẹ lớn nhất Việt Nam

Pampers quyết định chọn Webtretho là nơi đầu tiên để bắt đầu chiến dịch của mình. Đây là diễn đàn dành cho các bà mẹ lớn nhất Việt Nam với 2.2 triệu thành viên, 1.2 bài đăng và 8 triệu lượt trả lời tương tác. Tại Webtretho, Pampers tiến hành thiết lập chuyên mục “Làm mẹ 2.0”.

Chuyên mục này là nơi giải đáp mọi thắc mắc của các bà mẹ, giúp họ chia sẻ những khó khăn đang gặp phải trong quá trình chăm sóc con. Điều khiến các mẹ băn khoăn nhất là khi các bài học nuôi dạy con truyền thống và phương pháp chăm sóc hiện đại trở nên mâu thuẫn với nhau. “Những quan niệm truyền thống làm khó Mẹ Việt hiện đại”, chuyên mục “Làm mẹ 2.0” sẽ gỡ các nút thắc này.

Tạo đối thoại trên mạng xã hội

Tiếp theo đó, Facebook-er Thu Hà, nhà báo, tác giả cuốn sách kỹ năng nuôi dạy con “Con nghĩ đi, mẹ không biết” đồng thời là một facebooker nổi tiếng với gần 180 ngàn lượt theo dõi, được biết đến với các bài viết chia sẻ về quá trình nuôi dạy con, cũng đã hưởng ứng chiến dịch “Pampers Positive” bằng một bài viết trên trang cá nhân của mình. Bài viết này đạt được 4327 lượt thích, 384 lượt chia sẻ và 395 bình luận.

Bài đăng của nhà báo Thu Hà đã truyền cảm hứng cho rất nhiều bà mẹ khác ở khắp Việt Nam. Họ tiếp tục hưởng ứng “Pampers Positive” với những chia sẻ liên quan đến những quan niệm làm khó mẹ Việt thời hiện đại.

Chưa dừng lại ở đó, cuộc hội thoại tiếp tục được lan tỏa trên các trang báo mạng được nhiều người biết đến như: Afamily, Báo Phụ nữ online, Eva…với nội dung tập trung vào vấn đề những chia sẻ của mẹ Việt đối với cách chăm con truyền thống và những trở ngại kèm theo.

Bộ ảnh cảm động “Chỉ Mẹ mới biết”

Nằm trong chương trình chính của chiến dịch lần này, bộ ảnh “Chỉ Mẹ mới biết” của Pampers đã thực sự chạm đến cảm xúc người xem với hình ảnh mẹ và bé cạnh chia sẻ và những trăn trở của mẹ.

Cùng xem thêm bộ ảnh ở đây.

Chương trình đối thoại, tư vấn trực tiếp của các chuyên gia

Những cuộc đối thoại Pampers tạo ra không chỉ trên mạng xã hội mà còn có cả buổi tư vấn trực tiếp với sự góp mặt của các chuyên gia cùng đóng góp ý kiến và chia sẻ lời khuyên. Buổi trò chuyện “Nuôi con kiểu…ai?” được Webtretho và Pampers phối hợp tổ chức với sự tham gia của hơn 150 bà mẹ có con nhỏ đã cùng lắng nghe những trao đổi, chia sẻ của chuyên gia tâm lý Huỳnh Văn Sơn, đại diện Hội Điều Dưỡng Việt Nam – Bà Tô Thị Điền, nhà báo Thu Hà và MC Đan Lê về các quan niệm truyền đời đang làm khó bà mẹ Việt.

Buổi đối thoại này sau đấy được đăng tải lại trên các trang báo mạng lớn như: Tuổi Trẻ Online, Dân Trí, Thế Giới Phụ Nữ, Tiền Phong, tiếp tục tạo hiệu ứng lan tỏa khắp cộng đồng mạng.

HIỆU QUẢ ĐẠT ĐƯỢC

Sau 3 tháng triển khai, chiến dịch lan tỏa rộng rãi với hơn 36.000 lượt tương tác, 4.200 cuộc hội thoại trên mạng xã hội. Buổi chia sẻ, thảo luận trực tuyến “Nuôi con kiểu…ai?”đạt đến 54 triệu lượt xem. Sau 3 năm im hơi lặng tiếng, chiến dịch “Pampers Positive” mang đến thắng lợi lớn cho P&G cũng như là nhãn hiệu tã lót có mặt từ những năm 1950 tại thị trường Việt Nam. Đồng thời, thông qua campaign này mà sau 3 năm liên tục giảm thị phần, Pampers đã tăng thị phần trong 2 tháng.

Chiến dịch “Pampers Positive” của MSL đã giúp Pampers tăng cường kết nối với các bà mẹ Việt đồng thời đẩy mạnh tăng trưởng thị phần. “Pampers Positive” cũng cho thấy cơ hội để các nhãn hàng đặt tầm ảnh hưởng xã hội vào trung tâm các chiến dịch marketing, từ đó tạo nên kết quả kinh doanh thật sự tích cực.

Chiến dịch “Pampers Positive” của MSL Việt Nam vinh dự được trao tặng giải thưởng In2 SABRE Award dành cho “Chiến dịch truyền thông lan tỏa xuất sắc nhất” – Best Viral Campaign tại sự kiện Asia-Pacific In2 Innovation Summit được tổ chức vừa qua tại Singapore. Được hợp tác thực hiện bởi MSL và Saatchi – hai agency cùng chung mái nhà Publicis Groupe – cho khách hàng P&G Việt Nam, chiến dịch “Pampers Positive” cũng đã đạt giải Đồng WARC Award vào đầu năm nay.

Nguồn: Brandsvietnam

Có thể bạn quan tâm: 

>> Đừng vội tin vào 9 điều sau khi làm Digital Marketing

>> Đừng mải chạy theo Digital mà quên mất các kênh Offline

>> Khẩu vị người Việt: Trà hay Cà phê?

Hiệu ứng “chim mồi” hiệu quả trong bán hàng

Written by

Trong quá trình bán hàng hàng ngày, có một thủ thuật làm khách hàng móc hầu bao đầy tinh tế nhưng cũng cực kỳ hiệu quả khi ai cũng vui vẻ nghĩ rằng mình đã có lựa chọn đúng đắn.

Bán hàng với hiệu ứng chim mồi là gì?

Có thể tóm gọn hiệu ứng bán hàng “tinh tế” này trong một câu: Khi đối mặt với sự lựa chọn thứ ba (một “chim mồi”), khách hàng thường vui vẻ lựa chọn sản phẩm/ dịch vụ có giá cao hơn.

Nghe có vẻ hoang đường nhưng trên thực tế là vậy. Khi chỉ đối mặt với 2 sự lựa chọn, khách hàng thường tốn rất nhiều thời gian suy nghĩ trước khi đưa ra quyết định giữa sản phẩm/ dịch vụ tốt hơn với giá cao và sản phẩm/ dịch vụ kém hơn nhưng có thể tiết kiệm được tiền.

Đứng trước tình huống nan giải trên, khách hàng thường “nhát tay” và tự thuyết phục mình chọn sản phẩm rẻ hơn, với hy vọng rằng số tiền tiết kiệm sẽ được sử dụng mới mục đích tốt hơn trong tương lai.

Một quyết định khá sáng suốt về mặt tài chính cá nhân nhưng đồng thời là một kết quả không người bán hàng nào mong muốn.

Đó chính là lý do “chim mồi” ra đời. Thay vì chỉ có hai sự lựa chọn, sự xuất hiện của một chim mồi sẽ đảo lộn quyết định của khách hàng theo hướng có lợi hơn cho người bán.

Với mục đích nhằm nâng cao giá trị sản phẩm có giá cao trong mắt người tiêu dùng, các chim mồi tưởng chừng như bổ sung thêm sự lựa chọn cho khách hàng lại đẩy các “thượng đế” đến quyết định chi nhiều tiền hơn cần thiết.

Tâm lý học đằng sau hiệu ứng chim mồi

Hiệu ứng chim mồi là một trong những chiến thuật bán hàng dựa trên “định kiến nhận thức” của con người. Tuy là loài thống trị Trái đất nhưng con người thường xuyên đưa ra các quyết định và nhận định hoàn toàn sai lầm, nhất là khi có sự ảnh hưởng bởi:

  1. Thông tin bên ngoài; và
  2. Bản chất “phi lý trí” của tư duy.

Định kiến nhận thức là một phần không thể tránh khỏi trong tư duy của mỗi người, vì thế, các quyết định dựa trên định kiến đã trở thành một phần đời sống và thường bị rất nhiều đối tượng bán hàng “lợi dụng”.

Hiệu ứng chim mồi còn có tên gọi khác là Ưu thế bất cân xứng.

Sự lựa chọn thứ ba sẽ có giá trị cao hơn sản phẩm/ dịch vụ có giá rẻ (Ưu thế), nhưng lại có giá thành quá gần hoặc cao hơn hẳn sản phẩm/ dịch vụ có giá thành cao (Bất cân xứng).

Nhiều cuộc nghiên cứu đã chỉ ra, nếu có sự xuất hiện của Ưu thế bất cân xứng trong tổ hợp nhiều sản phẩm, các sản phẩm có chất lượng và giá thành cao hơn sẽ được chọn.

Một nghiên cứu tại Đại học Duke cho thấy Hiệu ứng chim mồi không chỉ ảnh hưởng tới quyết định mua sắm mà còn là đời sống hàng ngày của con người, chẳng hạn như quyết định chọn nhà hàng nào để ăn tối.

Nghiên cứu này đưa ra hai sự lựa chọn cho đối tượng khảo sát, một là nhà hàng 5 sao ở khá xa, hai là nhà hàng 3 sao ở ngay trong khu vực. Ngay lập tức câu hỏi trên khiến mọi người phân vân giữa chất lượng và tiện nghi, khiến họ rất khó để đưa ra được câu trả lời.

Nhưng đó là trước khi “chim mồi” được tung vào, nếu một nhà hàng 4 sao còn nằm xa hơn cả nhà hàng 5 sao xuất hiện. Ngay lập tức, chim mồi phát huy hiệu quả của mình khi các đối lượng khảo sát nhanh chóng lựa chọn nhà hàng 5 sao ở xa, mặc dù tính chất của nhà hàng này không hề thay đổi so với trước khi có sự xuất hiện của “chim mồi”.

Tiến xa thêm nữa, nếu chim mồi là một nhà hàng 2 sao nằm giữa nhà hàng 3 sao và 5 sao. Ngay lập tức nhà hàng 3 sao được chọn bởi vì tính tiện lợi và chất lượng cao hơn nhà hàng 2 sao, mặc dù nhà hàng 5 sao vẫn tồn tại như trước.

Ứng dụng hiệu ứng chim mồi

Một ứng dụng chim mồi “kinh điển” được Đại học MIT phát hiện là từ các lựa chọn đăng ký của tạp chí kinh tế danh tiếng Economist:

  • Gói A: Đọc báo online – 59 USD/ năm
  • Gói B: Nhận báo giấy –125 USD/ năm
  • Gói C: Vừa đọc báo online, vừa nhận báo giấy –125 USD/ năm

Trích lời giáo sư tâm lý Dan Ariely: “Tôi đọc lần lượt các sự lựa chọn của mình. Gói A có vẻ khá ổn so với chất lượng mà tờ Economist đem lại. Gói B thì có vẻ hơi mắc, nhưng vẫn không đến nỗi nào đối với những người yêu thích báo giấy. Nhưng tôi lại khá bất ngờ với Gói C, ngay lập tức tôi so sánh giá trị giữa 3 gói và Gói C trở nên vượt trội.”

“Chắc chắn gói B là chim mồi vì không ai “điên” đến mức bỏ ra cùng số tiền để nhận được ít hơn giá trị mà mình có thể có.”

Dan Ariely ngay lập tức tập hợp 100 sinh viên MIT nhưng chỉ đưa cho họ 2 sự lựa chọn:

  • Gói A: Đọc báo online – 59 USD/ năm
  • Gói C: Vừa đọc báo online, vừa nhận báo giấy –125 USD/ năm

Kết quả là 68 sinh viên chọn Gói A và chỉ 32 người chọn Gói C, khiến việc mất đi “chim mồi” ngay lập tức đem lại kết quả mà tờ Economist không mong muốn. Với cùng số lượng nội dung, Gói A trở nên cực kỳ hiệu quả về tài chính.

Ngoài ra thì Apple cũng được các chuyên gia đánh giá là một “bậc thầy” sử dụng hiệu ứng chim mồi. Ví dụ như ở hình dưới, cùng một phiên bản MacBook Pro 13-inch, người dùng sẽ đứng trước 3 sự lựa chọn khác nhau.

– Bên trái là mẫu cơ bản nhất với giá 1.499 USD.

– Ở giữa là mẫu có một thêm một vài tính năng cũng như bộ xử lý nhanh hơn, với giá 1.799 USD (hơn 300 USD so với mẫu cơ bản).

– Và bên phải cùng là mẫu có đầy đủ chức năng với ổ cứng gấp đôi so với mẫu thứ hai với giá 1.999 USD (chỉ hơn 200 USD so với sự lựa chọn trung bình).

Mẫu Macbook ở giữa với vai trò chim mồi vừa xóa mờ khoảng cách về giá giữa 2 mẫu rẻ nhất và đắt nhất, vừa thúc đẩy tâm lý “ngu sao không mua” của khách hàng, hướng họ đến mẫu máy có giá cao nhất.

Với cương vị là một khách hàng chuẩn bị “lên đời” MacBook, rất khó ai có thể cưỡng lại mong muốn “tới bến” với chỉ 200 USD.

Và theo một nghiên cứu gần đây, các mẫu iPhone với dung lượng lớn luôn là sản phẩm “cháy hàng” trước tiên, một minh chứng quá rõ về khả năng “chim mồi” thuần thục của Apple.

Kết luận

Hiệu ứng chim mồi là một thủ thuật bán hàng vừa tinh tế nhưng cũng không kém phần hiệu quả. Một khi bạn hiểu được nguyên tắc của hiệu ứng này, bạn sẽ thấy nó xuất hiện khắp mọi ngóc ngách trong đời sống hàng ngày.

Hiệu ứng chim mồi đã và đang thay đổi hành vi đi chợ, chọn quán ăn, hay thậm chí là mua nhà của mỗi người. Câu hỏi được đặt ra là: Liệu bạn có đủ kiến thức để nhận ra và thoát khỏi vòng xoáy chim mồi?

Nguồn: Trí thức trẻ

Có thể bạn quan tâm:

> Hành trình “Biến quà vặt thành Tinh hoa quà Việt” của ông chủ thương hiệu Ô mai Hồng Lam

> Sự ra đời của Bảo tàng kem: Tương lai của ngành bán lẻ

> 4 cách thức giúp thương hiệu luôn được làm mới


Hành trình “Biến quà vặt thành Tinh hoa quà Việt” của ông chủ thương hiệu Ô mai Hồng Lam

Written by

Trong sự kiện “Marketing giỏi phải kiếm được tiền” do Viện Tiếp thị & Kinh doanh Ứng dụng – Sage Academy tổ chức vào sáng 11/11 vừa qua tại Hà Nội, hơn 400 đại diện các doanh nghiệp lớn & nhỏ đều hào hứng và chăm chú lắng nghe câu chuyện của vị diễn giả tuy lớn tuổi nhất nhưng đã thành công trong việc “thổi” làn gió mới đến tất cả những ai tham dự sự kiện về câu chuyện hành trình của thương hiệu Ô mai Hồng Lam..

Tấn công thị trường bằng 3 phần của Marketing: Tạo giá trị, Truyền thông và Trao giá trị

Vốn không xuất thân từ một người học và làm về kinh doanh, đặc biệt là ô mai. Ông chủ thương hiệu Ô mai Hồng Lam nức tiếng ngày nay đã bắt đầu bán buôn bằng cách vào chợ trực tiếp theo nghĩa đen để hiểu khách hàng muốn gì. Ông Hồng Lam tự nhận thấy bản thân mình khác với tất cả những bán ở điểm ông là nhà khoa học, chính vì vậy ông nhìn ra quy luật để chinh phục được họ. Ông cũng hiểu họ có xu hướng bắt nạt người mua, thay vào đó ông đặt ra vấn đề “mua mở bán mở và phải sòng phẳng”. Nhờ tạo ra môi trường kinh doanh lành mạnh, ông chiếm được cảm tình của mọi người ở chợ, dù chợ có lên xuống thất thường ông vẫn có đủ sản phẩm cung cấp cho họ.

Khi tiến dần sang con đường kinh doanh bán lẻ, ông vẫn chịu khó và không ngừng học hỏi. Ban ngày ông làm ở xưởng đến tối lại đến cửa hàng để tận mắt chứng kiến và hiểu khách hàng của mình. Ông nhận ra những cô gái thích gì, những ông miền nam đi du lịch muốn mua quà gì. Và đỉnh điểm cho đến năm 2000, lần đầu tiên ông cảm thấy mình cần học marketing. Sau 2 ngày được thầy dạy, ông bắt đầu thực chiến bằng cách mua một cửa hàng ô mai nhưng đáng tiếc thay, ông không biết làm gì với nó.

Quá trình phát triển thương hiệu Ô mai Hồng Lam có lẽ bắt đầu từ chuyến đi châu Âu trong vòng 3 tháng của ông…

Áp dụng Marketing bằng sự khác biệt với ô mai truyền thống

Ông chủ của Ô mai Hồng Lam đã dành 3 tháng đi qua châu Âu để khám phá xem thế giới họ bán lẻ như thế nào từ đó học hỏi và áp dụng cho sản phẩm của mình. Ông quan niệm rằng ngày nay người ta bắt đầu nhắc đến nhiều về Marketing thời đại 4.0 là Lấy khách hàng làm trung tâm, tuy nhiên quan niệm này đã xuất phát ngay từ khi khởi nghiệp của người đàn ông xuất phát điểm không hề liên quan gì đến Marketing này.

Sự khác biệt đầu tiên là khi ông mời khách hàng vào nhà ăn thử ô mai, không giống các gian hàng ăn thử truyền thống được đặt trên vỉa hè hoặc lề đường. Họ cho người tiêu dùng ăn thử “tí ti”, ông cho khách ăn thử “bét nhè”. Ông cho rằng ông khó có thể kiếm được nhiều người ăn thử đến thế mà không cần mất tiền thuê, vậy thì hãy để họ giúp sản phẩm của mình hoàn thiện hơn. Các cô gái vào ăn thử ô mai đều rất sung sướng, ông hiểu sản phẩm đó ngon và hấp dẫn, nhưng nếu khách hàng nhăn mặt, ông sẽ thay đổi và hoàn thiện sản phẩm hơn. Với cách thông minh đó, ông chỉ cần đứng một chỗ quan sát và mỗi ngày ông có hàng trăm khách ra vào.

Nhờ quan sát từ đó thấu hiểu tâm lý khách hàng, ông Hồng Lam đã nghĩ ra một cách rất sáng tạo để nâng cao giá trị sản phẩm. Ông mua những chiếc lọ rất đẹp dùng ánh sáng chiếu lên ô mai để mọi người thấy ô mai cũng có vẻ đẹp riêng chứ không đơn giản chỉ là “màu đen đen đỏ đỏ”. Phụ nữ đến mua ô mai đều yêu cầu ông xúc ô mai từ những chiếc hộp đẹp đó mặc dù ông giải thích tất cả ô mai đều giống nhau và cùng một loại.

Khi Thời báo kinh tế Việt Nam bắt đầu thăm dò thị trường nhận thấy mỗi ô mai Hồng Lam niêm yết giá, từ đó thương hiệu ô mai Hồng Lam trở thành tiêu chí, định vị. Ông Lam vẫn khiêm tốn cho rằng đó chỉ là may mắn của mình vì ông đặt mình vào người tiêu dùng và nhìn từ góc độ của họ.

Cá nhân ông còn tự đặt ra cho bản thân một quan niệm mới về Marketing là “Marketing vòng tròn” xoay quanh hai vấn đề chính là marketing nội bộ và marketing bên ngoài. Khi còn nhỏ lẻ, ông có thể dễ dàng đứng tại cửa hàng để cảm nhận khách hàng Việt Nam muốn gì, khách hàng Trung Quốc hay Hàn Quốc muốn gì, nhưng khi phát triển thành chuỗi các cửa hàng, ông yêu cầu hàng tháng có báo cáo chi tiết về cảm nhận, nhu cầu của khách hàng. Ông chia thành 2 đội marketing ở bên trong nhà máy, dạy họ cách lấy sản phẩm làm nhân vật trung tâm, dạy họ suy nghĩ rằng sự thành công chính là sự đóng góp của họ vào sản phẩm, từ đó tối ưu hóa và cân bằng chuỗi cung ứng.

Slogan “kiếm được tiền” và quá trình biến “Quà vặt thành quà Việt, quà Việt thành quà tặng”

Vốn là một người luôn quan sát khách hàng và đặt họ lên hàng đầu, ông Nguyễn Hồng Lam đã nhờ người tiêu dùng để xây dựng slogan cho thương hiệu của mình. Sau 6 năm quan sát và không ngừng phát triển ông mới nghĩ ra được slogan “Tinh hoa quà Việt”, và cũng chính slogan ấy đã giúp Ô mai Hồng Lam thu được lợi nhuận lớn.

Sau đó ông Lam nhận ra ông cần định vị Hồng Lam trong môi trường kinh doanh, vì vậy ông thành lập phòng “Quản trị thị trường” để xác định ông có thể giúp gì cho xã hội và người tiêu dùng. “Công ty của tôi định vị bằng cách tạo giá trị ông cung cấp cho người tiêu dùng là tinh hoa quà Việt nhưng dùng để làm gì, đó là dùng để kết nối nhân gian” – ông Lam chia sẻ. Từ đó vế thứ hai của slogan ra đời “Tinh hoa quà Việt, kết nối nhân gian.” Dù biết cụm từ “Kết nối nhân gian” hơi cổ và xưa nhưng ông khám phá được những cách kết nối khác nhau. Cùng một lõi sản phẩm, ông tạo ra nhiều giá trị gia tăng cho những đối tượng, từ đó ông nhận thấy ô mai của mình không phải là một thứ quá to lớn để biếu. Người ta tặng nhau khăn lụa, đồ lưu niệm, ông thì lại mang một món quà thân tình khiến người nhận cảm thấy thân thương, gần gũi.

Một cách hóm hỉnh và chân thành, ông còn gửi lời cảm ơn của mình đến phụ nữ Việt Nam, nhờ thói quen ăn vặt của họ mà sản phẩm của ông càng ngày càng phát triển.

Bởi ban đầu ông quan sát thấy khách hàng mua ô mai về làm quà nhiều, đặc biệt là phụ nữ. Ô mai truyền thống thì không đảm bảo vệ sinh, bao bì không đẹp và không có thương hiệu. Ô mai Hồng Lam trở thành quà Việt, ăn ngon, yên tâm để đem tặng và là người bạn đáng tin cậy. Vậy là ông thành công biến “Quà vặt thành quà Việt”.

Sau khi khách hàng đã quen thuộc với chuỗi ô mai Hồng Lam, để tăng tần suất và doanh thu, ông bắt đầu quá trình biến “Quà Việt thành quà tặng”. Ông chia sẻ câu chuyện khi ông cấm phụ nữ trong nhà máy của mình ăn vặt vì sợ làm bẩn máy tính, nhưng khi không cấm được đồng thời nhận ra lợi thế của mình chính là đồ ăn vặt, ông đã tạo hẳn một bàn ăn vặt cho mọi người. Ông dần dần cải tiến sản phẩm và biến ô mai – một thứ nhỏ nhắn lên một đẳng cấp mới: hộp dẹt với khối lượng nhỏ hơn, bày trí cửa hàng đẹp hơn và từ đó rút ra 3 quy luật của chị em: “Khi mua thì thích được thêm, khi thanh toán thích được bớt và quan trọng nhất là sản phẩm phải long lanh” – ông Lam vừa tâm đắc vừa chỉ vào áo đồng phục màu cam ông mặc đến sự kiện.

Tóm lại là khách cần gì ta làm nấy, đối thủ không làm thì ta càng cần phải làm. Ông Lam nhờ cách chia sẻ gần gũi, dễ hiểu, đơn giản hóa những vấn đề tưởng phức tạp nhưng không kém phần trực quan đã thu hút hàng trăm người tham dự trong khán phòng.

Ngày 03/11 và 11/11/2018, serie đầu tiên của diễn đàn Business Talk Forum mang tên “Marketing Giỏi Phải Kiếm Được Tiền” tổ chức bởi Viện Tiếp thị & Kinh doanh Ứng dụng – Sage Academy diễn ra tại 2 thành phố lớn: TP. Hồ Chí Minh và Hà Nội, thu hút gần 1000 đại diện các doanh nghiệp gồm: chủ doanh nghiệp, giám đốc và các nhà quản lý Marketing.

Ngoài ra, sự kiện Marketing Giỏi Phải Kiếm Được Tiền tại Hà Nội sẽ được phát sóng livestream trên fanpage của học viện Sage vào lúc 13h30 ngày 13/11. Quý vị có thể theo dõi tại đây.

 

Có thể bạn quan tâm:

> Những điểm nhấn ấn tượng tại sự kiện Marketing Giỏi Phải Kiếm Được Tiền

Khóa huấn luyện Tổng quan về Marketing & Kỹ năng trả lời trên MXH cho Công ty Vinaphone

Nhìn lại sự kiện Sage Talks #16: CMO – Marketing Strategy Shifting 1.0 – 4.0

 

Marketers tối ưu hóa chiến lược với 10 sự thay đổi mới về Facebook

Written by

Facebook còn là một nền tảng thường xuyên thay đổi thuật toán, buộc người làm marketing cần phải cập nhật những kiến thức mới để tối ưu hóa các chiến lược, chiến dịch.

Dưới đây là những cập nhật về những thay đổi Facebook sẽ ảnh hưởng đến cách thức marketing trong năm 2019:

1. Mua sắm trên Instagram Stories

Những đoạn video ngắn (Stories) sẽ là kênh bán hàng quan trọng trong tương lai. Bạn hãy tạo thêm những trải nghiệm mua sắm bằng cách tăng tương tác và độ hấp dẫn cho cửa hàng bằng những video Stories trên Instagram.

Người dùng sẽ xem được các chi tiết của món hàng, sau đó, họ sẽ click vào đường link để chuyển sang website và thực hiện chốt đơn hàng.

2. Quảng cáo bằng tương tác thực tế ảo (AR)

Với quảng cáo thực tế ảo (AR), thương hiệu có phương tiện để kết nối sâu hơn với khách hàng, bằng cách giúp họ tương tác, hình dung và trải nghiệm sản phẩm ngay trên nền tảng Facebook.

Người dùng sẽ bị hấp dẫn bởi những lời mời “call-to-action” như “Nhấp vào để thử”, click vào mẫu quảng cáo để xem các dịch vụ và sản phẩm của doanh nghiệp.

3. Quảng cáo với Facebook Stories

Cũng với nền tảng Stories tương tự Instagram, Facebook tăng cường trải nghiệm cho người dùng.

Stories của Facebook không thực sự thành công như người anh em Instagram nhưng loại quảng cáo này dần trở nên phổ biến, cung cấp nhiều tùy chọn hơn để thương hiệu tiếp cận khách hàng.

4. Playable Ads – Mồi nhử “dùng thử miễn phí”

Facebook vừa bổ sung tính năng Playable Ads để quảng cáo các ứng dụng, game, cho phép người dùng được “Thử trước khi mua”.

Khi được dùng thử miễn phí, tâm lý người dùng sẽ thoải mái hơn, dễ dàng cài đặt ứng dụng hơn và nhờ vậy, doanh nghiệp có cơ hội bán được một ứng dụng cao hơn.

5. Facebook cập nhật cho Fanpage

Facebook có những cập nhật mới, thêm tính năng Recommendation Tools (Công cụ đề xuất) và Connection Options (Tùy chọn kết nối). Sự cập nhật này giúp Fanpage của doanh nghiệp tối đa hóa sự hiện diện của mình trên nền tảng, và tăng cường hiệu quả truyền miệng của khách hàng hơn.

Trước hết, Facebook đã thêm phần Recommendation vào Page cho phép người dùng đăng những đánh giá về doanh nghiệp,…

Tính năng Recommendation yêu cầu người dùng viết ít nhất 25 ký tự để bài đánh giá đầy đủ ý nghĩa hơn. Đặc biệt, người dùng có thể gắn các thẻ liên quan đến doanh nghiệp. Nó tương tự như Hashtag trước đây, nhằm giúp người dùng có thể hiểu được doanh nghiệp của bạn một cách dễ dàng nhất, chỉ bằng cách thông qua các từ khóa. Đồng thời, những từ khóa này cũng sẽ giúp Facebook phân loại doanh nghiệp của bạn cho các tìm kiếm liên quan.

Ngoài ra, Facebook cho phép Page tạo một “nút hành động nổi bật” trên Pages, để khách truy cập thực hiện các thao tác như đặt lịch hẹn, đặt món ăn, gửi tin nhắn hoặc viết Recommendation.

Những cập nhật trên giúp người dùng hiểu rõ hơn về Page họ truy cập, và hiểu hơn về những gì họ mong đợi dựa trên những trải nghiệm của những khách hàng trước đó.     

6. Tái thiết kế cho bản Di động

Giao diện của Fanpage trên các thiết bị di động đã được thiết kế lại để dễ dàng điều hướng hơn, nhằm thúc đẩy hành động nhiều hơn.

Người dùng sẽ mua một món hàng, đặt một món ăn ngay trên chiếc điện thoại của mình. Vì thế, hãy chắc chắn bạn dựa trên thói quen, hành vi, tâm lý của người dùng để tạo nên thiết trang và Nút kêu gọi hành động phù hợp. Việc này sẽ tác động trực tiếp đến doanh số của bạn.

7. Cập nhật số liệu video

Facebook vừa cập nhật số liệu quảng cáo video để giúp nhà quảng cáo có những điều chỉnh, xử lý tốt hơn về mức độ tương tác video, và tối ưu hóa quảng cáo dựa trên hành vi đó.

8. Tự nâng cao thương hiệu trong Test and Learn

Facebook cũng đã triển khai các tùy chọn để người làm quảng cáo tự kiểm tra và tìm hiểu cách một chiến dịch quảng cáo trên Facebook tác động đến thương hiệu của bạn. Đây là một công cụ rất hữu ích mà doanh nghiệp cần tìm hiểu ngay để cải thiện hiệu quả thực hiện social media của mình.

9. Video Creation Kit

Việc tạo video vẫn là khó khăn đối với doanh nghiệp bạn? Không sao, Facebook ra mắt công cụ Video Creation Kit – bộ công cụ tạo video sẽ biến những tấm ảnh hiện có thành clip, và tối ưu cho thiết bị di động.

10. Đánh giá – tìm kiếm đối tượng – Lookalike Audiences

Facebook tìm kiếm những tệp khách hàng tương tự như những đối tượng mục tiêu hiện tại của bạn. Bằng cách xác định và tiếp thị cho những người gần với khách hàng của bạn nhất, Facebook giúp bạn tăng khả năng bán được hàng, tăng lợi nhuận trên chi tiêu quảng cáo, và tối đa hóa các tương tác theo thời gian.

Trên đây là 10 sự thay đổi mới về Facebook giúp cho những người theo lĩnh vực marketing cập nhật để không đi sau thời đại.

Nguồn: Doanh nhân Sài Gòn

Có thể bạn quan tâm:

> Đại gia bán lẻ AEON và 3 thương vụ không thành công ở Việt Nam

> VinFast Klara – chiếc xe nhỏ nhắn cùng giấc mơ “xanh” hóa phương tiện 

> Business Model Canvas – Mô hình quyền lực cho các CMO


Những điểm nhấn ấn tượng tại sự kiện Marketing Giỏi Phải Kiếm Được Tiền

Written by

Sau thành công của sự kiện “Marketing Giỏi Phải Kiếm Được Tiền” được tổ chức tuần qua tại TP. Hồ Chí Minh, ngày 11/11 vừa qua, Viện Tiếp thị & Kinh doanh Ứng dụng – Sage Academy tiếp tục mang đến Hà Nội sự kiện này với bầu không khí chia sẻ cởi mở, chân thành từ các diễn giả, đem lại những dấu ấn ấn tượng cho hơn 400 đại điện từ các doanh nghiệp lớn & nhỏ khác nhau không chỉ ở Hà Nội mà còn ở các tỉnh thành miền Bắc.

Mở đầu hội thảo, ông Nguyễn Văn Phương – Founder & CEO, Sage Academy chỉ ra khó khăn về lĩnh vực marketing của hàng ngàn doanh nghiệp cũng như hàng ngàn học viên trong các khóa học của Học viện SAGE đang quan tâm chính là vai trò của marketing trong quá trình phát triển doanh nghiệp ngay từ những bước chân đầu tiên cho đến khi chúng ta cất cánh.

Bên cạnh đó, ông nhận được nhiều câu hỏi về việc làm thế nào để bán được hàng đồng thời cũng phải xây dựng được giá trị về thương hiệu. Chia sẻ thêm về lí do tổ chức sự kiện này, ông Phương cho rằng Marketing là một khoản đầu tư, là sự tranh cãi hàng ngày của doanh nghiệp, đặc biệt với những doanh nghiệp vừa và nhỏ phải tiếp cận thị trường với số tiền nhỏ nhưng gặp khó khăn trong việc đo lường. Chính vì vậy, sự kiện “Marketing giỏi phải kiếm được tiền” ra đời để kết nối và giúp mọi người tìm ra câu trả lời.

Sự kiện “Marketing giỏi phải kiếm được tiền” bắt đầu với sự tham gia của 7 diễn giả: Ông Phạm Lê Thái (Former Marketing Director, Vinamilk), ông Lê Tùng (CMO Tập đoàn Sunhouse), bà Nguyễn Lưu Ly (Head of Marcom, Viettel Telecom), bà Nguyễn Thị Trà My (Product Marketing Lead, Zalo Business), ông Phan Văn Hiệu – Chủ tịch HĐQT Công ty Dược mỹ phẩm CVI), ông Nguyễn Hồng Lam (CEO, Ô mai Hồng Lam) & ông Hoàng Tùng (Founder & CEO, Pizza Home & Mopi).

Sau khi lắng nghe các vị diễn giả chia sẻ nhận định cùa từng cá nhân về marketing, có thể nhận thấy nếu muốn làm marketing giỏi thì cần phải có xuất phát điểm gốc là market (thị trường), và thị trường không gì khác đó là khách hàng của bạn! Theo ông Phạm Lê Thái, đó chính là triết lý đã đi theo ông và đi theo marketing của Vinamilk trong suốt 12 năm. Ông cho rằng khi ta ra chợ ta có dịch vụ, trải nghiệm. Marketing cuối cùng là làm thế nào để bán được nhiều hàng hơn cho nhiều người hơn theo một cách thường xuyên hơn và ở mức giá cao hơn.

Tuy nhiên, với bà Lưu Ly, Viettel theo hướng non-marketing, thay vào đó Viettel sẽ chạy các kênh khác bởi có truyền thông hay không sẽ phụ thuộc vào chiến lược. Sản phẩm có đặc biệt trên thị trường và hay hơn các sản phẩm của đối thủ hay không, đó mới chính là điều quan trọng. Marketing là phải nói được tại sao phải mua sản phẩm của tôi mà không phải bất cứ ai khác.

Nêu lên quan điểm cá nhân về “Thế nào là Marketing Giỏi?”, ông Lê Tùng (CMO, Tập đoàn Sunhouse chia sẻ: “Đối với tôi không có khái niệm marketing giỏi, mà là marketing phù hợp, phù hợp với tầm nhìn của CEO – chủ doanh nghiệp, của doanh nghiệp và môi trường,…”.

Một điểm nhấn mà các đại diện doanh nghiệp tham dự sự kiện nghiền ngẫm và tâm đắc, đó chính là “Tất cả các hoạt động không biết có phải là marketing hay không đều đến từ quan sát hành vi khách hàng khi mua hàng và sử dụng sản phẩm” – Trích lời ông Lam – CEO Ô mai Hồng Lam.

Ông Hồng Lam thay vì cho khách ăn thử ít, ông quyết định cho họ ăn thử nhiều. Nếu thấy họ “nhăn mặt” có nghĩa họ không thích, thì ông lại tiếp tục thay đổi và đưa ra lựa chọn tốt nhất. Chính nhờ người tiêu dùng, ông đã thành công nhận ra việc người tiêu dùng thích bao bì đẹp cũng như tìm ra slogan nổi tiếng: “Tinh hoa quà Việt – Kết nối nhân gian.”

Đến với ông Phan Văn Hiệu – một doanh nhân với xuất phát điểm là dược sỹ, không có nền tảng là Marketing, khi khởi nghiệp ông không có khái niệm về marketing, ông trưởng thành lên là nhờ biết cách quan sát khách hàng. Ông nhận ra bản thân nên liều và dám làm để đưa câu chuyện tạo được quả bom nổ. Ông cho rằng ta nên tấn công trực diện vào thị trường, xem khách hàng gặp vấn đề gì, từ đó khuấy động họ đồng thời áp dụng khoa học sẵn có, tạo ra một sản phẩm hữu ích hơn.

Để có thể dẫn dắt được cả một doanh nghiệp vững mạnh hay đội ngũ Marketing chặt chẽ như hiện tại, không thể thiếu vắng những thất bại và sai lầm của những người đứng đầu. Và tất cả chúng ta đều hiểu và học được từ chính những thất bại ấy, chứ không chỉ nhìn vào những thành công của các vị khách mời.

Từ thất bại của ông Phạm Lê Thái với việc tái định vị sản phẩm Probi từ nhắm vào phụ nữ trẻ mong muốn đẹp da sang trẻ em yêu thích đồ uống chua chua, ngọt ngọt và được mẹ “phê chuẩn” an toàn cho đến bài học cay đắng của ông Hoàng Tùng về sản phẩm tóc, hay ông Phan Văn Hiệu về sản phẩm Detox Green – Giải độc xanh, Sống an lành. Và như ông Hồng Lam cũng từng rút kinh nghiệm và hoàn thiện sản phẩm hơn qua quá trình sản xuất sấu bao tử. Tất cả những câu chuyện thất bại được các vị diễn giả chia sẻ chân thành, cởi mở khiến khán phòng vừa tâm đắc lại vừa có bài học bổ ích riêng cho mình.

Học viện Sage tin rằng sự kiện “Marketing giỏi phải kiếm được tiền” đã mang đến cho chủ doanh nghiệp, các nhà marketing hay người đang làm marketing những góc nhìn mới lạ về marketing, đồng thời đem lại những case study để từ đó các doanh nghiệp vừa & nhỏ hay cả những doanh nghiệp lớn cũng đều đúc kết được những bài học, kinh nghiệm quý báu.

Một lần nữa, Viện Tiếp thị & Kinh doanh Ứng dụng – Sage Academy xin chân thành cảm ơn các vị diễn giả cùng gần 1000 doanh nghiệp, chủ doanh nghiệp, các nhà quản lý và marketers trên khắp 2 miền Nam – Bắc đã quan tâm và đồng hành cùng serie đầu tiên của Business Talk Forum mang tên “Marketing Giỏi Phải Kiếm Được Tiền”. Hẹn gặp lại ngày gần nhất và tiếp tục tiếp thêm những giá trị cho cộng đồng doanh nghiệp Việt ngày một vững mạnh!

Ngoài ra, sự kiện Marketing Giỏi Phải Kiếm Được Tiền tại Hà Nội sẽ được phát sóng livestream trên fanpage của học viện Sage vào lúc 13h30 ngày 13/11. Quý vị có thể theo dõi tại đây

Liệu định vị thương hiệu có chịu ảnh hưởng từ quốc gia xuất xứ?

Written by

Những công ty đến từ một số quốc gia nhất định có thể hưởng lợi từ danh tiếng, hình ảnh tích cực của nơi xuất xứ.

Năm 1887, chính phủ Anh thông qua đạo luật bắt buộc các sản phẩm được sản xuất bên ngoài nước Anh phải dán nhãn quốc gia xuất xứ để bảo vệ hàng hóa bản xứ khỏi tình trạng bị sao chép kém chất lượng. Cho đến ngày nay, nhãn xuất xứ “Made in…” có lẽ là một trong những yếu tố ảnh hưởng lớn nhất, cả trong nghĩa tích cực và tiêu cực, đối với nhận thức của người tiêu dùng, thuộc tính giá trị của hàng hóa và hành vi mua sắm.

Thời gian gần đây, nhiều công đoạn sản xuất được chuyển sang các nước đang phát triển, nhưng ngay cả những thương hiệu mạnh nhất như Apple vẫn e ngại tác động tiêu cực của quốc gia xuất xứ (country of origin – COO) và phải in dòng chữ “Designed by Apple in California” (thiết kế bởi Apple ở California) trước khi dán nhãn “Assembled in China” (được lắp ráp ở Trung Quốc) lên các sản phẩm của họ.

Một số quốc gia trở thành hình ảnh đại diện cho chất lượng xuất sắc trong một số ngành hàng nhất định, chẳng hạn nước Pháp nổi tiếng với rượu, nước Đức với xe hơi, Nhật Bản với hàng điện tử và Hoa Kỳ với sản phẩm công nghệ. Điều này ảnh hưởng mạnh đến nhận thức của người tiêu dùng đối với sản phẩm và dịch vụ của một công ty, tùy thuộc vào xuất xứ của sản phẩm đó.

Chính vì vậy, những công ty đến từ một số quốc gia nhất định có thể hưởng lợi từ danh tiếng, hình ảnh tích cực của nơi xuất xứ. Trong khi đó, các công ty khởi nghiệp đến từ những nền kinh tế mới nổi hoặc các thị trường đang chuyển đổi – chưa tạo dựng được sự ghi nhận mạnh mẽ trong bất cứ ngành hàng nào – sẽ đối mặt với ảnh hưởng tiêu cực về COO, hoặc ít nhất phải cạnh tranh với những nền kinh tế vốn có ảnh hưởng tích cực hơn về xuất xứ sản phẩm.

Theo một khảo sát của World Advertising Research Centre, 81% người Mỹ thích sản phẩm của Nhật Bản hơn sản phẩm của Trung Quốc. Ngoài Nhật, Hàn Quốc và Đài Loan, người tiêu dùng phương Tây khó liên tưởng các quốc gia châu Á với một lợi thế cạnh tranh nào khác hơn là giá thấp – chất lượng thấp.

Nhưng gần đây cũng đã xuất hiện những ví dụ tích cực đối với xuất xứ thương hiệu từ châu Á mà trường hợp điển hình là Hàn Quốc. Người tiêu dùng đang dần biết đến Hàn Quốc như một trong những nơi tạo trào lưu mới trong lĩnh vực làm đẹp, không chỉ ở châu Á mà cho cả thế giới. Hàn Quốc hiện giờ đã vượt qua Nhật Bản như một hình mẫu cho vẻ đẹp châu Á và khi mở rộng ra thị trường ngoài nước, các thương hiệu mỹ phẩm và chăm sóc da của họ sẽ được lợi từ giá trị tích cực mà xuất xứ thương hiệu mang lại. Trong khi đó, nhờ vào sự vươn lên mạnh mẽ trên thị trường toàn cầu, thương hiệu Samsung cũng đã có ảnh hưởng tích cực đến giá trị thương hiệu quốc gia của Hàn Quốc.

Để có thể tồn tại, vượt qua những bất lợi liên quan đến COO và phát triển, khẳng định vị trí trên thị trường quốc tế, các thương hiệu đến từ các nước Đông Âu, châu Á đã vận dụng những phương cách dưới đây:

Tập trung nâng cao chất lượng và truyền thông về những thành quả

Chất lượng cao cùng với cam kết mạnh mẽ nhằm đáp ứng nhu cầu của khách hàng, độ linh hoạt cao và giá cả cạnh tranh sẽ làm nên khác biệt.

Xây dựng thương hiệu là điều bắt buộc

“Branding” là một thuật ngữ thường bị hiểu sai ở những quốc gia mà sự liên tưởng về nguồn gốc xuất xứ không mạnh. Hầu hết các nhà quản trị vẫn còn tin rằng hoạt động thương hiệu liên quan đến cách công ty sử dụng logo, bao bì và quảng cáo, trong khi bất cứ hoạt động nào góp phần tạo ra trải nghiệm khác biệt cho khách hàng cần được xem là hoạt động thương hiệu. Nếu có ý định vượt qua những bất lợi về quốc gia xuất xứ và phát triển ở thị trường nước ngoài trong dài hạn, các thương hiệu cần phải hành động nhiều hơn, chứ không đơn thuần chỉ “tiếp thị giả tạo” là đủ.

Tận dụng các đối tác bên ngoài

Đó có thể là hợp tác trực tiếp như liên doanh, liên minh chiến lược, hợp tác với các đại lý, hoặc hợp tác gián tiếp ở dạng tạo “hiệu ứng tràn” cho thương hiệu.

Mặc dù các thương hiệu Trung Quốc thường được xem là “tiền nào của nấy”, nhưng nhận thức toàn cầu về sự sáng tạo và thiết kế, mẫu mã của thương hiệu Trung Quốc đang có sự cải thiện nhờ vào những liên minh “có chất lượng”: Lenovo-IBM, Apple-Foxconn hay Huawei với Motorola, 3Com và Symantec.

Sử dụng truyền thông và tạo sự hiện diện quốc tế

Để tạo niềm tin, các doanh nghiệp – đặc biệt là công ty startup có thể tìm sự bảo chứng tích cực từ những khách hàng nổi tiếng, tham dự các hội chợ và hội nghị để có được sự hiện diện quốc tế hoặc trở thành thành viên của các tổ chức và hiệp hội để tiếp xúc với đối tác và khách hàng tiềm năng.

Doanh nghiệp có thể thiết lập hoạt động thật sự tại nước ngoài – những thị trường dẫn đầu trong lĩnh vực kinh doanh của doanh nghiệp và xây dựng một hình ảnh quốc tế. Chẳng hạn, NQ Mobile – công ty an toàn viễn thông xuất xứ từ Bắc Kinh đã thành lập một tổng hành dinh tách riêng ở Texas, Mỹ cho việc điều hành kinh doanh ở các thị trường phát triển, do một cộng đồng CEO người Mỹ quản lý và gồm toàn nhân viên người Mỹ.

Nguồn: Doanh nhân plus

Có thể bạn quan tâm:

> Phân tích chiến dịch Baby Shark đưa Shopee bay cao khắp Đông Nam Á

> Điện máy xanh và TVC gây ám ảnh với câu hát “nổi da gà”

> VinFast Klara – chiếc xe nhỏ nhắn cùng giấc mơ “xanh” hóa phương tiện


Đại gia bán lẻ AEON và 3 thương vụ không thành công ở Việt Nam

Written by

Sau 10 năm có mặt tại Việt Nam và 4 lần hợp tác với các đối tác trong nước nhưng đến nay chưa có lần hợp tác nào mang lại quả ngọt cho ông lớn bán lẻ đến từ Nhật Bản này.

Aeon quyết định chia tay với Fivimart cuối tháng 9 vừa qua, đây cũng là cái tên cuối cùng trong chiến dịch hợp tác rầm rộ trước đó của Aeon khi gia nhập thị trường Việt Nam từ năm 2008. Nhìn lại 10 năm qua với 3 lần hợp tác thương hiệu tại đây, đại gia bán lẻ đến từ Nhật Bản này dường như chưa tìm được tiếng nói chung và cũng chưa thu được nhiều giá trị về tài chính.

Bắt tay 2 ông lớn nội địa

Từ năm 2008, khi nền kinh tế Việt Nam vẫn còn nhiều khó khăn, Aeon đã cử các chuyên gia của mình sang khảo sát thị trường và mở văn phòng đại diện tại đây. Những hoạt động đầu tư thầm lặng của Aeon khiến cái tên này còn khá xa lạ với cả người tiêu dùng lẫn giới đầu tư trong nước. Khi liên doanh G7-Ministop ra đời năm 2011, Aeon (cùng với Trung Nguyên) là một trong hai “ông chủ” của hệ thống này. Tuy nhiên, do những mâu thuẫn trong quá trình hợp tác giữa hai bên nên liên doanh này bị thất bại. Cái tên Aeon vẫn chưa được mấy ai biết đến.

Chỉ tới đầu năm 2014, khi Aeon chính thức đưa vào hoạt động Trung tâm Thương mại Aeon Mall Celadon Tân Phú (TP.HCM) với quy mô 3,5 ha, nhiều người mới bất ngờ. Và rất nhanh sau đó, đến cuối năm 2014, nhà bán lẻ lớn từ nước Nhật tiếp tục khai trương đại siêu thị Aeon Mall Canary Bình Dương với quy mô lên tới 6 ha.

Sau khi đánh dấu sự có mặt hoành tráng của mình ở Việt Nam với mô hình đại siêu thị, Aeon xoay chiến lược với việc hợp tác với các thương hiệu nội địa mới nổi để tăng độ nhận diện thương hiệu. Hai cái tên được chọn liên tiếp sau đó là hai hệ thống siêu thị Citimart ở phía Nam (2014) và Fivimart ở phía Bắc (2015). Qua những cái bắt tay này, tạo ra hai liên doanh mới với tên gọi AeonCitimart và AeonFivimart. Trong đó, Aeon nắm 30% cổ phần của Fivimart và 49% cổ phần của Citimart.

Nhờ chiến lược hợp tác với các siêu thị lớn trong nước, tập đoàn bán lẻ của Nhật đã hoàn thành mục tiêu “Một mũi tên trúng hai đích” là vừa tăng tốc phát triển tại thị trường Việt Nam, vừa nâng cao nhận thức của người tiêu dùng trong nước về thương hiệu Aeon. Nếu nhìn vào chuỗi 30 siêu thị của Citimart và chuỗi 20 siêu thị của Fivimart trên khắp cả nước, có thể hiểu được tham vọng của Aeon là rất lớn.

Lý giải về việc lựa chọn Citimart và Fivimart, ông Yukio Konishi, Tổng giám đốc Aeon Mall Việt Nam, cho biết khi vào thị trường Việt Nam, Aeon mong muốn hợp tác với những doanh nghiệp nhỏ và vừa đang trong giai đoạn phát triển, đã đạt được những thành công nhất định để hai bên cùng nỗ lực để phát triển mạnh mẽ hơn.

Ngoài ra, không loại trừ khả năng Aeon sẽ tiếp tục lấn sâu vào ngành bán lẻ nội địa thông qua những thương vụ M&A, tương tự như cách làm với Citimart và Fivimart. “Nếu có nhiều thương hiệu nội địa tốt thì chúng tôi sẽ suy nghĩ đến việc mua thêm”, ông Konishi cho biết.

Hợp tác với Citimart, Fivimart liên tục lỗ

Tuy nhiên, sau một thập kỷ, nhìn lại tất cả các mối quan hệ này vẫn chưa cái bắt tay nào đạt được kỳ vọng như tuyên bố ban đầu. Ở một góc nhìn khác thì chỉ thấy được sự khả quan trong kết quả kinh doanh của hệ thống 4 trung tâm thương mại độc lập của Aeon. Trong khi đó các mô hình liên kết thường không đem lại kết quả kinh doanh tốt.

Cụ thể, với 4 siêu thị hoạt động độc lập, trong năm 2016, doanh thu Aeon Việt Nam đã tăng lên 3.883 tỷ đồng, gấp 3 lần năm 2014 và lợi nhuận trước thuế 54 tỷ đồng. Năm 2017, doanh thu tăng hơn 30%, đạt 5.136 tỷ đồng và lãi trước trước thuế 234 tỷ đồng, gấp hơn 4 lần năm trước đó.

Tuy nhiên với các thương vụ hợp tác tình hình kinh doanh của Fivimart, Citimart lại có dấu hiệu đi xuống. Trong đó rõ rệt nhất là hệ thống siêu thị Fivimart khi 3 năm tài chính liên tiếp đều ghi nhận lỗ ròng dù số lượng siêu thị đã tăng gấp đôi. Cụ thể, năm 2016 hệ thống ghi nhận mức lỗ 96 tỷ, đến năm 2017 con số lỗ lũy kế lên tới gần 200 tỷ đồng. Nợ phải trả ngang bằng với tổng tài sản của công ty ở mức hơn 800 tỷ đồng.

Trong khi đó, Citimart cũng đối diện với tình hình tiêu cực dù doanh thu của chuỗi siêu thị này có tăng trưởng khoảng 15%, đạt gần 1.600 tỷ đồng trong năm 2016. Tuy nhiên, nhìn vào cơ cấu tài chính lỗ lũy kế ghi nhận lên tới 157 tỷ đồng.

Đa dạng mô hình kinh doanh thông qua liên kết và phát triển hệ thống đại siêu thị là chiến lược tiếp cận và từng bước chiếm lĩnh thị trường bán lẻ Việt Nam của Aeon.

Chưa tìm được tiếng nói chung

Cách Aeon triển khai hoạt động kinh doanh tại Việt Nam cho thấy, họ nhắm tới một đích đến xa hơn khi triển khai các chân rết của mình ở những địa điểm chiến lược, nhất quán và cùng khai thác kinh doanh tổng lực với các nhà bán lẻ khác. Tuy nhiên những mắt xích liên kết của hệ thống này vẫn chưa có được tiếng nói chung sau nhiều năm tìm đến nhau.

Trong thông cáo mới nhất về việc chia tay với Fivimart, ông lớn bán lẻ này cho biết giữa Fivimart và Aeon trong khi thương lượng chiến lược tăng trưởng, mong muốn thực hiện nâng cao cuộc sống của người tiêu dùng và phát triển thị trường bán lẻ của Việt Nam là như nhau.

Tuy nhiên, trong phương hướng, tư tưởng, tầm nhìn chiến lược của hai công ty có sự khác nhau rõ ràng. Vì vậy, hai công ty đã thương lượng và đi đến đồng ý hủy bỏ hợp tác nhằm để mỗi bên xúc tiến chiến lược tăng trưởng, đầu tư vào việc cải thiện giá trị công ty, thay vì tiếp tục việc hợp tác nghiệp vụ, liên kết vốn.

Việc khác biệt về tư duy cũng được nhắc đến ở thời điểm Trung Nguyên công bố việc ký hợp tác với Ministop (Aeon sở hữu) phát triển chuỗi G7 của mình. Nhiều người cho rằng đây là cơ hội “giải cứu” chuỗi cửa hàng G7 Mart đang kinh doanh thất bại ở thời điểm đó. Tại một buổi họp báo hồi năm 2010, lãnh đạo G7 cho biết hai bên sẽ thành lập liên doanh, trong đó G7 chiếm 75% cổ phần và Ministop đóng góp 25%, với số vốn ban đầu trên 10 triệu đô la Mỹ, mục tiêu phát triển 500 cửa hàng trong vòng 5 năm.

Tuy nhiên, đây là con số mà nhiều người cho là “quá tham vọng”. Bởi lẽ một số chuỗi cửa hàng tiện lợi lớn đã có mặt ở Việt Nam sớm hơn còn chưa đặt ra mục tiêu cao như vậy do việc tìm địa điểm ở hai thành phố lớn Hà Nội và TPHCM là rất khó khăn, giá thuê đắt đỏ. Trong khi đó, nhiều người tiêu dùng vẫn có thói quen mua hàng ở các cửa hàng tạp hóa truyền thống. Thực tế sau gần 5 năm hợp tác, chuỗi cửa hàng Ministop chỉ dừng lại ở 17 điểm bán.

Giới quan sát cho rằng có khả năng hàng trăm cửa hàng của G7 Mart chưa thật sự phù hợp với điều kiện mà Ministop đề ra. Mặt khác, đa số đây là những điểm kinh doanh do G7 “nâng cấp” từ các cửa hàng tạp hóa truyền thống thông qua việc nhượng quyền kinh doanh, chứ không phải do chính G7 đầu tư.

Có lẽ sự khác biệt về tư duy kinh doanh khiến cho 10 năm qua Aeon vẫn chưa tìm được đối tác hoàn hảo.

Nguồn: Zing News

Có thể bạn quan tâm:

> Đánh vào tâm lý chung, Coca Cola tìm ra chiến lược lôi kéo giới trẻ thành công

> Phân tích chiến dịch Baby Shark đưa Shopee bay cao khắp Đông Nam Á

> Starbuck “chơi” an toàn với các thiết kế trong mùa lễ hội 2018


Đánh vào tâm lý chung, Coca Cola tìm ra chiến lược lôi kéo giới trẻ thành công

Written by

Chỉ một vài thay đổi nhỏ cũng có thể giúp Coca-Cola thúc đẩy doanh số bán hàng. Sau nhiều năm tổng hợp thông tin về xu hướng tiêu thụ đồ uống, Giám đốc điều hành của “gã khổng lồ” Coca-Cola đã thông báo rằng ông đang rất lạc quan về doanh thu của Diet Coke (Dòng sản phẩm nước có ga, không đường dành cho người ăn kiêng).

  

Theo đó, Coca-Cola đã đáp ứng kỳ vọng của nhà đầu tư trong báo cáo lợi nhuận hàng quý và ghi nhận tăng trưởng hai con số một phần nhờ vào dòng sản phẩm đồ uống cho người ăn kiêng.

Tuy nhiên, điều quan trọng hơn thành công hàng quý ngắn hạn chính là nhóm người đang tiêu thụ Diet Coke: những người trong độ tuổi từ 20 tuổi đến 30 tuổi. Thống kê cho thấy giai đoạn gần đây, họ có xu hướng hướng tới những loại trà và đồ uống lành mạnh hơn. Trên thực tế, Giám đốc điều hành James Quincey tiết lộ tất cả là nhờ kế hoạch marketing của công ty.

Công ty đã tạo ra dòng đồ uống dành cho người ăn kiêng với nhiều mùi vị mới như anh đào, gừng chanh, xoài…và thay đổi bao bì sản phẩm có màu sắc tươi sáng hơn. Điều này đã khiến người mua tò mò về hương vị cũng như hứng thú với diện mạo mới của những lon Diet Coke.

Những lon Diet Coke mới với nhiều hương vị và bao bì bắt mắt.

Giám đốc điều hành Quincey cho biết: “Kết quả là tăng trưởng về doanh thu và khối lượng. Tuy không phải ai thuộc thế hệ này cũng biết đến Diet Coke nhưng có lẽ nhờ chiến lược marketing hợp lý của chúng tôi, họ đã tìm được một loại đồ uống có hương vị mới lạ và lành mạnh hơn so với một số sản phẩm chứa nhiều đường khác”.

Đây là một tín hiệu đáng mừng trong thị trường nhiều tính cạnh tranh như hiện nay. Hơn nữa, người tiêu dùng cũng đang có xu hướng quan tâm tới những gì họ nạp vào cơ thể, đặc biệt là lượng đường chứa trong thực phẩm. Một điểm cần lưu ý khác chính là chính trị thương mại toàn cầu đang tác động khiến chi phí sản xuất của các công ty ngày một gia tăng.

Dữ liệu nghiên cứu cho thấy các công ty sản xuất đồ uống có mức tăng trưởng khoảng 5% mỗi năm trong giai đoạn đầu những năm 2000. Tuy nhiên, đến năm 2007, tỷ lệ này đã…biến mất và thậm chí còn có xu hướng tiếp diễn trong một thập kỷ tới.

Ngoài ra, số liệu theo dõi còn chỉ ra rằng đến năm 2016, người dân Mỹ đã tiêu thụ nước đóng chai nhiều hơn đồ uống có ga. Năm 2007, Coca-Cola bán được hơn 14 tỷ lít nước ngọt có ga nhưng đến năm 2016, con số này đã giảm khoảng 18% còn hơn 11 tỷ lít.

Ngay cả khi doanh số bán hàng của Diet Coke có xu hướng tăng lên thì công ty thực phẩm và đồ uống lớn nhất thế giới vẫn tiếp tục nỗ lực để đa dạng hóa sản phẩm của mình. Ở thời điểm hiện tại, họ đang tập trung vào mảng cà phê.

Tháng 8 vừa qua, Coca-Cola thông báo họ đã chi 5 tỷ USD để thâu tóm chuỗi cửa hiệu cà phê lớn thứ 2 trên thế giới là Costa Coffee. Cà phê đang dần trở thành một sản phẩm ngày càng phổ biến trên khắp các lục địa và thường được ca ngợi là có lợi cho sức khỏe, điều được coi là điểm yếu của nhiều loại đồ uống có đường.

Giám đốc Quincey chia sẻ: “Đồ uống nóng là một trong những sản phẩm mà chúng tôi chưa sở hữu thương hiệu mang tính toàn cầu. Chính vì vậy, Costa Coffee sẽ giúp Coca-Coca tiếp cận với thị trường tiềm năng này bằng nền tảng kinh doanh vững chắc”.

Nguồn: Advertising Vietnam

Có thể bạn quan tâm: 

>> Đừng vội tin vào 9 điều sau khi làm Digital Marketing

>> Đừng mải chạy theo Digital mà quên mất các kênh Offline

>> Khẩu vị người Việt: Trà hay Cà phê?

Ai đang “chặt” khách hàng từng khúc để quản trị?

Written by

Để quản trị trải nghiệm khách hàng, thì việc nhìn công ty mình một cách hệ thống, toàn hành trình là điều bắt buộc. Nếu nhìn cục bộ mỗi chức năng, sai lầm này sẽ xảy ra. Vì khách hàng không “phân thân” họ theo quy trình và tổ chức vận hành như bạn chia công ty bạn.

*Bài viết là quan điểm của Chuyên gia Trải nghiệm Khách hàng Nguyễn Dương. Mời anh chị đón đọc!

Hãy xem quy trình sinh ra trải nghiệm một sản phẩm của nhà mạng di động. Và điều bạn cần là bài học quản trị đằng sau câu chuyện này.
– Phòng truyền thông: phát đi thông điệp: “gói cước data không giới hạn”. Thấy có lợi, khách hàng đăng ký mua.
– Kênh bán: khách hàng dùng được một số hôm, không vào được mạng, liền phàn nàn với kênh bán, kênh bán ú ớ không hiểu gì, trả lời: hàng trăm gói cước, tôi nhớ sao được, hỏi nhân viên nhà mạng ấy.
– Bộ phận bán hàng: hỏi bộ phận sản phẩm, được giải thích là sau khi hết tốc độ cao thì bóp xuống tốc độ thấp.
– Dịch vụ khách hàng: bị khách hàng phàn nàn, giận dữ… DVKH đi hỏi kỹ thuật: ông cắt data của khách hàng à? Kỹ thuật trả lời: không cắt chỉ bóp. ờ, với ngôn ngữ của khách hàng thì đây nghĩa là cắt ông nhé.
– Trong nội bộ: Kênh bán đổ lỗi cho nhà mạng, DVKH đổ lỗi cho phòng sản phẩm, phòng sản phẩm đổ lỗi phòng truyền thông, phòng truyền thông đổ lỗi cho phòng sản phẩm, Sếp kêu DVKH không có kỹ năng giải quyết khiếu nại.

Doanh nghiệp ĐƯỢC gì? Được một số doanh thu do khách hàng thấy PR hấp dẫn và đăng ký.
Doanh nghiệp MẤT gì? Mất niềm tin của khách hàng. Lần sau doanh nghiệp nói thật, khách hàng vẫn nghi ngờ. Hàng đêm chúng ta kể “cậu bé chăn cừu” để dạy con nhỏ nhưng quên áp dụng cho mình.
Các bộ phận phối hợp kém, chia cắt và giữ những mục tiêu riêng mà mục tiêu đó lại không nhất quán với mục tiêu của các bộ phận còn lại.

Tôi gọi đây là sự đứt gẫy về tổ chức. Xảy ra với rất nhiều doanh nghiệp, tất cả các ngành, đây chỉ là một ví dụ. Khi điều này xảy ra, các doanh nghiệp “chặt” khách hàng thành từng khúc để quản trị, đó là thảm họa với trải nghiệm khách hàng! Với các nhân viên, điều này tạo nên nỗi đau luẩn quẩn, giảm hiệu quả, giảm năng suất, nguồn lực, đạo đức…

Và khi ông cứ gà ông nói, bà cứ vịt bà làm như vậy, chiến lược omnichannel cũng sẽ chỉ là mơ giữa ban ngày. Khách hàng bơ vơ trong ma trận tổ chức (đôi khi họ được nghe giải thích) điều mà họ chưa bao giờ mong muốn được biết.

À, nhưng mạng nói, làm thế mãi cũng có thấy tổn thất nhiều lắm đâu! Đó là vì:
– Viễn thông là ngành bán độc quyền, cũng như ngành hàng không, xăng dầu… bạn chỉ có vài lựa chọn. Không ông A thì ông B, không ông B thì ông C.
– Sự hơn nhau về trải nghiệm khách hàng giữa các nhà mạng là chưa nhiều.

Và bạn hỏi, tôi cũng đang bị đứt gẫy về tổ chức như trên thì sao?
Nếu công ty bạn hoạt động trong một ngành cạnh tranh mạnh, khách hàng có nhiều lựa chọn, và đối thủ của bạn có trải nghiệm tốt hơn, bạn sẽ bị khách hàng rời bỏ đầu tiên.

Sự đứt gãy về tổ chức là vấn đề không hề dễ để nhìn ra. Vì trong nhiều trường hợp, mỗi bộ phận đều có KPI riêng tốt lên. Vì sao mỗi bộ phận đều làm tốt việc của mình, nhưng hiệu quả tổng thể thì lại kém? Bạn hãy hình dung, trên một chiếc thuyền có 10 ông cùng chèo, nhưng chèo 8 hướng thì bạn sẽ hiểu.

Nên trong trải nghiệm khách hàng, việc quan trọng đầu tiên là phải khiến cho mục tiêu của mỗi cá nhân nhất quán với mục tiêu của bộ phận, mục tiêu của mỗi bộ phận kết nối với mục tiêu của phòng, mục tiêu của các phòng gắn chặt với mục tiêu của cả công ty.

Làm cách nào? Sau đây là một số công cụ và việc phải làm:
– Rõ ràng về lời hứa thương hiệu, chiến lược trải nghiệm khách hàng, nguyên tắc vận hành
– Hành trình khách hàng: công cụ chung của tất cả phòng ban
– Ban quản lý dự án CX – thành lập liên phòng ban: để làm công tác liên phòng ban, kết nối các mảnh vào mục tiêu chung
– Hệ thống phối hợp và chia sẻ thông tin, dữ liệu về khách hàng chung
– Dịch chuyển về tư duy: khoảng cách giữa các phòng ban không phải các bức tường gạch, nó là bức tường tư duy, thói quen, văn hóa làm việc.
– Cam kết mạnh mẽ của lãnh đạo về lấy khách hàng làm trung là mục tiêu chung xuyên suốt

Để quản trị trải nghiệm khách hàng, thì việc nhìn công ty mình một cách hệ thống, toàn hành trình là điều bắt buộc. Nếu nhìn cục bộ mỗi chức năng, sai lầm này sẽ xảy ra. Vì khách hàng không “phân thân” họ theo quy trình và tổ chức vận hành như bạn chia công ty bạn.
Bạn phải nhìn công ty bạn như cách mà khách hàng nhìn công ty bạn.

Nguồn: Chuyên gia Trải nghiệm Khách hàng Nguyễn Dương (Nhà sáng lập Cempartner)

Có thể bạn quan tâm:

>> 3 chiến thuật tác động hiệu quả vào tâm lý khách hàng

>> Cái chết dần của những marketer trong ngành FMCG

>> WinRar lãi hay lỗ từ việc cho khách hàng dùng thử mãi mãi?

Sự giao thoa giữa chiến lược email marketing và messenger marketing

Written by

Trong tương lai, cuộc chiến giữa email marketing và message marketing hứa hẹn sẽ ngày càng “gay gắt”. Các marketer phải đứng giữa hai lựa chọn: công cụ hữu hiệu của ngày hôm nay hay kênh marketing tiềm năng nhất của ngày mai?

 

Thoạt nhìn, ta có thể hiểu được lý do tại sao. Chúng ta đang chứng kiến một số lượng khổng lồ những người tham gia vào Messenger – nhiều hơn 619% so với email. Cùng với đó, Messenger cũng có 1,3 tỷ người dùng thường xuyên.

Khi các công ty băn khoăn nên sử dụng cái nào, lời khuyên được đưa ra là: Dùng cả hai. Điều này khiến cho nhiều người ngạc nhiên vì họ nghĩ rằng được này mất kia, không thể lợi cả đôi đường. Thực tế, kết hợp sử dụng cả email và Messenger sẽ làm cho doanh nghiệp của bạn kiếm được nhiều tiền hơn là chọn một trong hai. Khi nào bạn nên sử dụng cái nào và sử dụng với đối tượng nào – những câu hỏi này phải đi kèm với hoàn cảnh cụ thể.

Dưới đây là ba điều cần cân nhắc khi bạn quyết định lĩnh vực nào trong chiến lược marketing của bạn cần có email và lĩnh vực nào cần Messenger.

Mục đích

Mọi tương tác mà công ty bạn có với ai đó đều cần một mục đích. Tất cả thông tin liên lạc nên được cân nhắc, cho dù đó là khách hàng tiềm năng hay khách hàng trung thành. Mục tiêu marketing của bạn sẽ xác định xem email hay Messenger thì phù hợp hơn.

Trong một số trường hợp, bạn có nhiều điều để nói – hoặc để trưng ra cho khách hàng. Đó là một lý do lớn tại sao email vẫn là một kênh được lựa chọn cho giao tiếp dạng dài. Email thắng ở điểm, nó có độ dài đủ để mọi người có thể lưu trữ và chia sẻ thông tin sau này. Tuy nhiên, hầu hết các email marketing và bán hàng mà tôi nhận được lại không đáp ứng được điều này.

“Trao đổi song phương > Độc thoại”

Đây là điểm mà giao tiếp nhanh gọn của Messenger chiếm ưu thế. Khi bạn nhận được một email, có cảm giác như các công ty đang gào vào mặt bạn. Còn với Messenger, những công ty đó như đang trò chuyện với bạn. Tất nhiên điều này cũng còn phụ thuộc vào việc bạn đang nói chuyện với ai. Mặc dù trò chuyện song phương là tốt hơn đối với một số người, nhưng không có nghĩa là nó tốt hơn cho tất cả.

Nhân khẩu học

Đối tượng của bạn bắt đầu sử dụng Internet từ những năm 1990-2005? Nếu đúng, rất có thể email là cách họ giữ liên lạc với bạn bè và các doanh nghiệp. Theo HubSpot, đây vẫn là công cụ được các thế hệ cũ ưa thích hơn. Email đã từng là thứ kết nối chúng ta với các doanh nghiệp và với hệ thống quản lý quan hệ khách hàng (CRM) cá nhân. Nhưng thời thế đã thay đổi.

Các thế hệ trẻ ngày nay không dành nhiều thời gian vào hộp thư email của họ; họ nhắn tin cho nhau. Đây là một phần trong sự thay đổi lớn của thời đại, nơi mà ứng dụng nhắn tin đã trở thành hoạt động chiếm tới 91% thời gian của mọi người trên máy tính và các thiết bị di động. Để trở thành một marketer thành công trong năm 2018, bạn cần tiếp cận người dùng ở nơi mà họ dành thời gian. Những trải nghiệm marketing thú vị nhất của ngày mai sẽ xảy ra trên các nền tảng như Messenger.

Trải nghiệm

Nếu bạn và tôi giống nhau, có lẽ bạn cũng đã từng đổi một vài địa chỉ email trong những năm qua. Email từ thời sinh viên? Chỉ nên dùng cho đến khi bạn tốt nghiệp. Địa chỉ email cơ quan? Phù hợp cho đến khi bạn thay đổi công việc. Địa chỉ email gắn với các giai đoạn hữu hạn trong cuộc sống của chúng ta. Tuy nhiên, những thứ như tài khoản Facebook sẽ không bao giờ thay đổi. Bạn sẽ luôn là bạn. Sử dụng Messenger Marketing có nghĩa là bạn có thể dính dáng với một người nào đó trong suốt cuộc đời của họ.

Theo thời gian, bạn sẽ tìm hiểu thêm về những triển vọng mà bạn có thể sử dụng để cá nhân hóa cách bạn tương tác với khách hàng. Đó là thực hành tốt nhất trên các nền tảng. Messenger có một “công thức bí mật” cực kỳ hữu ích cho chiến dịch marketing mà nhiều marketer không nhận ra. Bạn có thể cá nhân hóa trong thời gian thực (real-time) trên Messenger. Mỗi từ khách hàng nói hoặc mỗi nút họ nhấp có thể hướng họ vào trải nghiệm đã được nhắm sẵn mục tiêu. Bạn sẽ nắm bắt được ý định và niềm vui của họ ngay lập tức, mà không phải đợi cho đến khi có email tiếp theo.

Lời khuyên cho bạn

Hãy để đối tượng của bạn lựa chọn nơi họ muốn tương tác với bạn. Nó sẽ làm gia tăng giá trị trên tất cả các kênh của bạn trong cả ngắn và dài hạn. Có một số đối tượng muốn nghe thông tin từ bạn, nhưng không phải trong hộp thư email đến của họ. Hãy cung cấp cho những người đó một phương thức khác để giữ liên lạc, như Messenger.

Khi làm điều đó, đây sẽ là một cơ hội tốt để bạn cải thiện tỷ lệ mở và nhấp chuột. Mọi thông điệp đưa ra chỉ dành cho những người muốn nghe từ bạn trên kênh đó. Điều này cũng có thể giúp bạn đạt được kết quả tốt trong thời gian dài.

Điều này không có nghĩa Messenger hay công cụ nào khác là tuyệt đối. Hãy linh hoạt  và sử dụng kết hợp cả hai. Chúng tôi có rất nhiều người thích tải sách điện tử trên Messenger. Nhưng sau khi nói chuyện với họ, chúng tôi biết được rằng nhiều người trong số họ vẫn đọc nó trên máy tính để bàn. Chúng tôi cũng bắt đầu gửi email cho họ một bản sao của ebook mà họ muốn để cung cấp cho họ trải nghiệm tốt hơn. Hãy xét lại sự khác biệt giữa email và Messenger mà chúng tôi đã đề cập trong bài đăng này. Sử dụng kết hợp cả hai kênh khi bạn hiểu được giá trị của nó.

Có đôi khi trong cuộc sống 1 + 1 = 3. Marketing thông qua email và Messenger song song là một trong số đó. Các kênh marketing quyền lực của hôm nay và mai sau có nhiều sự khác biệt. Vấn đề ở đây không phải là bạn sử dụng chỉ một trong hai nền tảng trên như thế nào mà là làm thế nào để sử dụng kết hợp cả hai. Các marketer giỏi sẽ tận dụng hoàn cảnh để được lợi cả đôi đường chứ không phải được này mất kia.

Nguồn: Saga

Có thể bạn quan tâm: 

>> Đừng vội tin vào 9 điều sau khi làm Digital Marketing

>> Đừng mải chạy theo Digital mà quên mất các kênh Offline

>> Khẩu vị người Việt: Trà hay Cà phê?