Marketing Archives - SAGE - Applied Marketing Academy

Xà bông Cô Ba: Sự trở lại của huyền thoại từ thời vàng son

Written by

Nhiều thương hiệu “vang bóng vàng son” như kem đánh răng Dạ Lan, xà bông Cô Ba, mỹ phẩm Thorakao, bông Bạch Tuyết, diêm Thống Nhất, mì Miliket… qua bao biến cố thương trường, không ít thương hiệu lụi tàn, nhưng cũng có thương hiệu phát triển vững bền nhờ tài năng, khát vọng và niềm tin vào sức sống của sản phẩm trong nước.

Xà bông Cô Ba huyền thoại của người Việt từ những năm đầu thế kỷ 20 sẽ tái xuất trong năm 2018, được tung ra thị trường để cạnh tranh với “chị em” xà bông thơm toàn cầu.

Vang bóng một thời

Khi nhắc đến các thương hiệu Việt “vang bóng một thời”, nhiều người hay nói tới kem đánh răng Dạ Lan hay xà bông Cô Ba (in hình ảnh đương kim hoa hậu thời bấy giờ). Những sản phẩm tiêu dùng thiết yếu hàng ngày được ưa chuộng khoảng đầu thế kỷ XX. Cục xà bông màu xanh mát in hình một người phụ nữ Việt Nam với tóc búi cao, trán rộng từng làm mưa làm gió trên thương trường lúc bấy giờ, gắn liền với câu chuyện về doanh nhân Trương Văn Bền.

Ông Trương Văn Bền (1883 – 1956) sinh ra tại Chợ Lớn (Sài Gòn), trong một gia đình có truyền thống làm nghề thủ công. Ông mở hãng xà bông Cô Ba từ trước năm 1932, tọa lạc tại số 40 chợ Kim Biên, quận 5, TPHCM. Xà bông Cô Ba làm từ dầu dừa, xút và hương liệu, nhưng ông có bí quyết mua hương liệu tạo mùi thơm lâu bền. Xưởng của ông ở Chợ Lớn, mỗi tháng sản xuất khoảng 1.500 tấn dầu dừa và khoảng 600 tấn xà bông. Ngoài chất lượng sản phẩm, ông Bền còn có những cách quảng cáo vô cùng ấn tượng thời bấy giờ.

Ông cho vận động dùng hàng nội với câu khẩu hiệu “Người Việt Nam nên xài xà bông của Việt Nam”, phủ dày đặc lên xe điện, xe hơi, áp phích, áo cầu thủ bóng đá, len lỏi cả vào các thể loại âm nhạc. Thậm chí, ông còn cho người đi thành từng tốp nhỏ, hàng ngày qua các tiệm tạp hóa hỏi mua xà bông Cô Ba để người khác chú ý. Dần dà, sản phẩm của ông được nhiều người biết đến và ghi nhớ, tin dùng.

Ngoài Việt Nam, xà bông Cô Ba được dùng rộng rãi ở Lào và Campuchia, xuất khẩu qua Hong Kong và một số các nước châu Phi. Đến năm 1977, công ty xà bông Cô Ba chuyển sang hình thức công tư hợp doanh có tên là nhà máy Xà bông Việt Nam. Năm 2004, công ty cổ phần hóa, đổi tên thành Công ty cổ phần Sản xuất và Thương mại Phương Đông do Tập đoàn Hóa chất Việt Nam nắm giữ hơn 62% vốn. Tới năm 2014, Tập đoàn này thoái vốn hoàn toàn.

Trong bối cảnh chuyển giao của thời cuộc và sự cạnh tranh với các sản phẩm dầu gội, sữa tắm thương hiệu ngoại, xà bông Cô Ba mất dần thị phần, không còn được sử dụng nhiều trên thị trường. Công ty Phương Đông cũng ngừng sản xuất sản phẩm này hơn một năm nay.

Khôi phục lại hương xưa

Vừa qua, Công ty cổ phần Đầu tư thương mại bất động sản An Dương Thảo Điền cho biết đang khôi phục thương hiệu Xà bông Cô Ba để đưa sản phẩm này trở lại thị trường trong năm nay. Giữa tháng 3 vừa qua, tại phiên họp Đại hội đồng cổ đông thường niên, ông Nguyễn Nhân Bảo – Tổng giám đốc công ty chia sẻ: “Sản phẩm xà bông Cô Ba theo khảo sát đang được chào đón nhiều ở phía Nam, nhất là các tỉnh miền Tây Nam Bộ. Xà bông Cô Ba là một thương hiệu vừa có ý nghĩa về mặt kinh doanh, đem lại lợi nhuận, vừa có ý nghĩa về mặt lịch sử, là trách nhiệm của doanh nhân trong việc lưu giữ, phát triển. Hiện Cty đĐang thiết lập, khôi phục nhân sự chủ chốt, trang thiết bị dây chuyền sản xuất, dự kiến ra mắt sản phẩm vào quý II năm nay vì đây là mảng thương hiệu kinh doanh tiềm năng”.

Cũng theo ông Bảo, Sự trở lại của thương hiệu xà bông Cô Ba rất ý nghĩa, vì chỉ riêng câu chuyện về ông Trương Văn Bền đã là một huyền thoại của người Việt Nam. Đồng thời, sức ảnh hưởng của thương hiệu này trong nhận thức của người Việt không hề nhỏ.

Khơi dậy được niềm tự hào dân tộc, đa dạng hóa sản phẩm của người bản xứ. Hầu hết giới chuyên gia nhận định thị trường hóa mỹ phẩm nước ta ngày một trở nên sôi động, đặc biệt là khi Việt Nam tham gia hàng loạt các hiệp định thương mại tự do, đưa thuế nhập khẩu loại hàng hóa này được về mức 0 – 5%.

Theo số liệu thống kê của Mintel, tiềm năng kinh doanh mỹ phẩm tại Việt Nam là rất lớn khi thị trường mỹ phẩm năm 2015 đạt 1,2 tỷ USD, năm 2016 đạt 1,78 tỷ USD và dự báo năm 2018 sẽ cán mốc 2,35 tỷ USD; thậm chí nếu tính chung toàn thị trường sản xuất, kinh doanh hàng tiêu dùng nhanh thì mảnh đất này thực sự màu mỡ.

Nguồn: Báo Tiền Phong

Có thể bạn quan tâm:

> Đại gia bán lẻ AEON và 3 thương vụ không thành công ở Việt Nam

> Đánh vào tâm lý chung, Coca Cola tìm ra chiến lược lôi kéo giới trẻ thành công

> Starbuck “chơi” an toàn với các thiết kế trong mùa lễ hội 2018


Hiệu ứng “chim mồi” hiệu quả trong bán hàng

Written by

Trong quá trình bán hàng hàng ngày, có một thủ thuật làm khách hàng móc hầu bao đầy tinh tế nhưng cũng cực kỳ hiệu quả khi ai cũng vui vẻ nghĩ rằng mình đã có lựa chọn đúng đắn.

Bán hàng với hiệu ứng chim mồi là gì?

Có thể tóm gọn hiệu ứng bán hàng “tinh tế” này trong một câu: Khi đối mặt với sự lựa chọn thứ ba (một “chim mồi”), khách hàng thường vui vẻ lựa chọn sản phẩm/ dịch vụ có giá cao hơn.

Nghe có vẻ hoang đường nhưng trên thực tế là vậy. Khi chỉ đối mặt với 2 sự lựa chọn, khách hàng thường tốn rất nhiều thời gian suy nghĩ trước khi đưa ra quyết định giữa sản phẩm/ dịch vụ tốt hơn với giá cao và sản phẩm/ dịch vụ kém hơn nhưng có thể tiết kiệm được tiền.

Đứng trước tình huống nan giải trên, khách hàng thường “nhát tay” và tự thuyết phục mình chọn sản phẩm rẻ hơn, với hy vọng rằng số tiền tiết kiệm sẽ được sử dụng mới mục đích tốt hơn trong tương lai.

Một quyết định khá sáng suốt về mặt tài chính cá nhân nhưng đồng thời là một kết quả không người bán hàng nào mong muốn.

Đó chính là lý do “chim mồi” ra đời. Thay vì chỉ có hai sự lựa chọn, sự xuất hiện của một chim mồi sẽ đảo lộn quyết định của khách hàng theo hướng có lợi hơn cho người bán.

Với mục đích nhằm nâng cao giá trị sản phẩm có giá cao trong mắt người tiêu dùng, các chim mồi tưởng chừng như bổ sung thêm sự lựa chọn cho khách hàng lại đẩy các “thượng đế” đến quyết định chi nhiều tiền hơn cần thiết.

Tâm lý học đằng sau hiệu ứng chim mồi

Hiệu ứng chim mồi là một trong những chiến thuật bán hàng dựa trên “định kiến nhận thức” của con người. Tuy là loài thống trị Trái đất nhưng con người thường xuyên đưa ra các quyết định và nhận định hoàn toàn sai lầm, nhất là khi có sự ảnh hưởng bởi:

  1. Thông tin bên ngoài; và
  2. Bản chất “phi lý trí” của tư duy.

Định kiến nhận thức là một phần không thể tránh khỏi trong tư duy của mỗi người, vì thế, các quyết định dựa trên định kiến đã trở thành một phần đời sống và thường bị rất nhiều đối tượng bán hàng “lợi dụng”.

Hiệu ứng chim mồi còn có tên gọi khác là Ưu thế bất cân xứng.

Sự lựa chọn thứ ba sẽ có giá trị cao hơn sản phẩm/ dịch vụ có giá rẻ (Ưu thế), nhưng lại có giá thành quá gần hoặc cao hơn hẳn sản phẩm/ dịch vụ có giá thành cao (Bất cân xứng).

Nhiều cuộc nghiên cứu đã chỉ ra, nếu có sự xuất hiện của Ưu thế bất cân xứng trong tổ hợp nhiều sản phẩm, các sản phẩm có chất lượng và giá thành cao hơn sẽ được chọn.

Một nghiên cứu tại Đại học Duke cho thấy Hiệu ứng chim mồi không chỉ ảnh hưởng tới quyết định mua sắm mà còn là đời sống hàng ngày của con người, chẳng hạn như quyết định chọn nhà hàng nào để ăn tối.

Nghiên cứu này đưa ra hai sự lựa chọn cho đối tượng khảo sát, một là nhà hàng 5 sao ở khá xa, hai là nhà hàng 3 sao ở ngay trong khu vực. Ngay lập tức câu hỏi trên khiến mọi người phân vân giữa chất lượng và tiện nghi, khiến họ rất khó để đưa ra được câu trả lời.

Nhưng đó là trước khi “chim mồi” được tung vào, nếu một nhà hàng 4 sao còn nằm xa hơn cả nhà hàng 5 sao xuất hiện. Ngay lập tức, chim mồi phát huy hiệu quả của mình khi các đối lượng khảo sát nhanh chóng lựa chọn nhà hàng 5 sao ở xa, mặc dù tính chất của nhà hàng này không hề thay đổi so với trước khi có sự xuất hiện của “chim mồi”.

Tiến xa thêm nữa, nếu chim mồi là một nhà hàng 2 sao nằm giữa nhà hàng 3 sao và 5 sao. Ngay lập tức nhà hàng 3 sao được chọn bởi vì tính tiện lợi và chất lượng cao hơn nhà hàng 2 sao, mặc dù nhà hàng 5 sao vẫn tồn tại như trước.

Ứng dụng hiệu ứng chim mồi

Một ứng dụng chim mồi “kinh điển” được Đại học MIT phát hiện là từ các lựa chọn đăng ký của tạp chí kinh tế danh tiếng Economist:

  • Gói A: Đọc báo online – 59 USD/ năm
  • Gói B: Nhận báo giấy –125 USD/ năm
  • Gói C: Vừa đọc báo online, vừa nhận báo giấy –125 USD/ năm

Trích lời giáo sư tâm lý Dan Ariely: “Tôi đọc lần lượt các sự lựa chọn của mình. Gói A có vẻ khá ổn so với chất lượng mà tờ Economist đem lại. Gói B thì có vẻ hơi mắc, nhưng vẫn không đến nỗi nào đối với những người yêu thích báo giấy. Nhưng tôi lại khá bất ngờ với Gói C, ngay lập tức tôi so sánh giá trị giữa 3 gói và Gói C trở nên vượt trội.”

“Chắc chắn gói B là chim mồi vì không ai “điên” đến mức bỏ ra cùng số tiền để nhận được ít hơn giá trị mà mình có thể có.”

Dan Ariely ngay lập tức tập hợp 100 sinh viên MIT nhưng chỉ đưa cho họ 2 sự lựa chọn:

  • Gói A: Đọc báo online – 59 USD/ năm
  • Gói C: Vừa đọc báo online, vừa nhận báo giấy –125 USD/ năm

Kết quả là 68 sinh viên chọn Gói A và chỉ 32 người chọn Gói C, khiến việc mất đi “chim mồi” ngay lập tức đem lại kết quả mà tờ Economist không mong muốn. Với cùng số lượng nội dung, Gói A trở nên cực kỳ hiệu quả về tài chính.

Ngoài ra thì Apple cũng được các chuyên gia đánh giá là một “bậc thầy” sử dụng hiệu ứng chim mồi. Ví dụ như ở hình dưới, cùng một phiên bản MacBook Pro 13-inch, người dùng sẽ đứng trước 3 sự lựa chọn khác nhau.

– Bên trái là mẫu cơ bản nhất với giá 1.499 USD.

– Ở giữa là mẫu có một thêm một vài tính năng cũng như bộ xử lý nhanh hơn, với giá 1.799 USD (hơn 300 USD so với mẫu cơ bản).

– Và bên phải cùng là mẫu có đầy đủ chức năng với ổ cứng gấp đôi so với mẫu thứ hai với giá 1.999 USD (chỉ hơn 200 USD so với sự lựa chọn trung bình).

Mẫu Macbook ở giữa với vai trò chim mồi vừa xóa mờ khoảng cách về giá giữa 2 mẫu rẻ nhất và đắt nhất, vừa thúc đẩy tâm lý “ngu sao không mua” của khách hàng, hướng họ đến mẫu máy có giá cao nhất.

Với cương vị là một khách hàng chuẩn bị “lên đời” MacBook, rất khó ai có thể cưỡng lại mong muốn “tới bến” với chỉ 200 USD.

Và theo một nghiên cứu gần đây, các mẫu iPhone với dung lượng lớn luôn là sản phẩm “cháy hàng” trước tiên, một minh chứng quá rõ về khả năng “chim mồi” thuần thục của Apple.

Kết luận

Hiệu ứng chim mồi là một thủ thuật bán hàng vừa tinh tế nhưng cũng không kém phần hiệu quả. Một khi bạn hiểu được nguyên tắc của hiệu ứng này, bạn sẽ thấy nó xuất hiện khắp mọi ngóc ngách trong đời sống hàng ngày.

Hiệu ứng chim mồi đã và đang thay đổi hành vi đi chợ, chọn quán ăn, hay thậm chí là mua nhà của mỗi người. Câu hỏi được đặt ra là: Liệu bạn có đủ kiến thức để nhận ra và thoát khỏi vòng xoáy chim mồi?

Nguồn: Trí thức trẻ

Có thể bạn quan tâm:

> Hành trình “Biến quà vặt thành Tinh hoa quà Việt” của ông chủ thương hiệu Ô mai Hồng Lam

> Sự ra đời của Bảo tàng kem: Tương lai của ngành bán lẻ

> 4 cách thức giúp thương hiệu luôn được làm mới


Hành trình “Biến quà vặt thành Tinh hoa quà Việt” của ông chủ thương hiệu Ô mai Hồng Lam

Written by

Trong sự kiện “Marketing giỏi phải kiếm được tiền” do Viện Tiếp thị & Kinh doanh Ứng dụng – Sage Academy tổ chức vào sáng 11/11 vừa qua tại Hà Nội, hơn 400 đại diện các doanh nghiệp lớn & nhỏ đều hào hứng và chăm chú lắng nghe câu chuyện của vị diễn giả tuy lớn tuổi nhất nhưng đã thành công trong việc “thổi” làn gió mới đến tất cả những ai tham dự sự kiện về câu chuyện hành trình của thương hiệu Ô mai Hồng Lam..

Tấn công thị trường bằng 3 phần của Marketing: Tạo giá trị, Truyền thông và Trao giá trị

Vốn không xuất thân từ một người học và làm về kinh doanh, đặc biệt là ô mai. Ông chủ thương hiệu Ô mai Hồng Lam nức tiếng ngày nay đã bắt đầu bán buôn bằng cách vào chợ trực tiếp theo nghĩa đen để hiểu khách hàng muốn gì. Ông Hồng Lam tự nhận thấy bản thân mình khác với tất cả những bán ở điểm ông là nhà khoa học, chính vì vậy ông nhìn ra quy luật để chinh phục được họ. Ông cũng hiểu họ có xu hướng bắt nạt người mua, thay vào đó ông đặt ra vấn đề “mua mở bán mở và phải sòng phẳng”. Nhờ tạo ra môi trường kinh doanh lành mạnh, ông chiếm được cảm tình của mọi người ở chợ, dù chợ có lên xuống thất thường ông vẫn có đủ sản phẩm cung cấp cho họ.

Khi tiến dần sang con đường kinh doanh bán lẻ, ông vẫn chịu khó và không ngừng học hỏi. Ban ngày ông làm ở xưởng đến tối lại đến cửa hàng để tận mắt chứng kiến và hiểu khách hàng của mình. Ông nhận ra những cô gái thích gì, những ông miền nam đi du lịch muốn mua quà gì. Và đỉnh điểm cho đến năm 2000, lần đầu tiên ông cảm thấy mình cần học marketing. Sau 2 ngày được thầy dạy, ông bắt đầu thực chiến bằng cách mua một cửa hàng ô mai nhưng đáng tiếc thay, ông không biết làm gì với nó.

Quá trình phát triển thương hiệu Ô mai Hồng Lam có lẽ bắt đầu từ chuyến đi châu Âu trong vòng 3 tháng của ông…

Áp dụng Marketing bằng sự khác biệt với ô mai truyền thống

Ông chủ của Ô mai Hồng Lam đã dành 3 tháng đi qua châu Âu để khám phá xem thế giới họ bán lẻ như thế nào từ đó học hỏi và áp dụng cho sản phẩm của mình. Ông quan niệm rằng ngày nay người ta bắt đầu nhắc đến nhiều về Marketing thời đại 4.0 là Lấy khách hàng làm trung tâm, tuy nhiên quan niệm này đã xuất phát ngay từ khi khởi nghiệp của người đàn ông xuất phát điểm không hề liên quan gì đến Marketing này.

Sự khác biệt đầu tiên là khi ông mời khách hàng vào nhà ăn thử ô mai, không giống các gian hàng ăn thử truyền thống được đặt trên vỉa hè hoặc lề đường. Họ cho người tiêu dùng ăn thử “tí ti”, ông cho khách ăn thử “bét nhè”. Ông cho rằng ông khó có thể kiếm được nhiều người ăn thử đến thế mà không cần mất tiền thuê, vậy thì hãy để họ giúp sản phẩm của mình hoàn thiện hơn. Các cô gái vào ăn thử ô mai đều rất sung sướng, ông hiểu sản phẩm đó ngon và hấp dẫn, nhưng nếu khách hàng nhăn mặt, ông sẽ thay đổi và hoàn thiện sản phẩm hơn. Với cách thông minh đó, ông chỉ cần đứng một chỗ quan sát và mỗi ngày ông có hàng trăm khách ra vào.

Nhờ quan sát từ đó thấu hiểu tâm lý khách hàng, ông Hồng Lam đã nghĩ ra một cách rất sáng tạo để nâng cao giá trị sản phẩm. Ông mua những chiếc lọ rất đẹp dùng ánh sáng chiếu lên ô mai để mọi người thấy ô mai cũng có vẻ đẹp riêng chứ không đơn giản chỉ là “màu đen đen đỏ đỏ”. Phụ nữ đến mua ô mai đều yêu cầu ông xúc ô mai từ những chiếc hộp đẹp đó mặc dù ông giải thích tất cả ô mai đều giống nhau và cùng một loại.

Khi Thời báo kinh tế Việt Nam bắt đầu thăm dò thị trường nhận thấy mỗi ô mai Hồng Lam niêm yết giá, từ đó thương hiệu ô mai Hồng Lam trở thành tiêu chí, định vị. Ông Lam vẫn khiêm tốn cho rằng đó chỉ là may mắn của mình vì ông đặt mình vào người tiêu dùng và nhìn từ góc độ của họ.

Cá nhân ông còn tự đặt ra cho bản thân một quan niệm mới về Marketing là “Marketing vòng tròn” xoay quanh hai vấn đề chính là marketing nội bộ và marketing bên ngoài. Khi còn nhỏ lẻ, ông có thể dễ dàng đứng tại cửa hàng để cảm nhận khách hàng Việt Nam muốn gì, khách hàng Trung Quốc hay Hàn Quốc muốn gì, nhưng khi phát triển thành chuỗi các cửa hàng, ông yêu cầu hàng tháng có báo cáo chi tiết về cảm nhận, nhu cầu của khách hàng. Ông chia thành 2 đội marketing ở bên trong nhà máy, dạy họ cách lấy sản phẩm làm nhân vật trung tâm, dạy họ suy nghĩ rằng sự thành công chính là sự đóng góp của họ vào sản phẩm, từ đó tối ưu hóa và cân bằng chuỗi cung ứng.

Slogan “kiếm được tiền” và quá trình biến “Quà vặt thành quà Việt, quà Việt thành quà tặng”

Vốn là một người luôn quan sát khách hàng và đặt họ lên hàng đầu, ông Nguyễn Hồng Lam đã nhờ người tiêu dùng để xây dựng slogan cho thương hiệu của mình. Sau 6 năm quan sát và không ngừng phát triển ông mới nghĩ ra được slogan “Tinh hoa quà Việt”, và cũng chính slogan ấy đã giúp Ô mai Hồng Lam thu được lợi nhuận lớn.

Sau đó ông Lam nhận ra ông cần định vị Hồng Lam trong môi trường kinh doanh, vì vậy ông thành lập phòng “Quản trị thị trường” để xác định ông có thể giúp gì cho xã hội và người tiêu dùng. “Công ty của tôi định vị bằng cách tạo giá trị ông cung cấp cho người tiêu dùng là tinh hoa quà Việt nhưng dùng để làm gì, đó là dùng để kết nối nhân gian” – ông Lam chia sẻ. Từ đó vế thứ hai của slogan ra đời “Tinh hoa quà Việt, kết nối nhân gian.” Dù biết cụm từ “Kết nối nhân gian” hơi cổ và xưa nhưng ông khám phá được những cách kết nối khác nhau. Cùng một lõi sản phẩm, ông tạo ra nhiều giá trị gia tăng cho những đối tượng, từ đó ông nhận thấy ô mai của mình không phải là một thứ quá to lớn để biếu. Người ta tặng nhau khăn lụa, đồ lưu niệm, ông thì lại mang một món quà thân tình khiến người nhận cảm thấy thân thương, gần gũi.

Một cách hóm hỉnh và chân thành, ông còn gửi lời cảm ơn của mình đến phụ nữ Việt Nam, nhờ thói quen ăn vặt của họ mà sản phẩm của ông càng ngày càng phát triển.

Bởi ban đầu ông quan sát thấy khách hàng mua ô mai về làm quà nhiều, đặc biệt là phụ nữ. Ô mai truyền thống thì không đảm bảo vệ sinh, bao bì không đẹp và không có thương hiệu. Ô mai Hồng Lam trở thành quà Việt, ăn ngon, yên tâm để đem tặng và là người bạn đáng tin cậy. Vậy là ông thành công biến “Quà vặt thành quà Việt”.

Sau khi khách hàng đã quen thuộc với chuỗi ô mai Hồng Lam, để tăng tần suất và doanh thu, ông bắt đầu quá trình biến “Quà Việt thành quà tặng”. Ông chia sẻ câu chuyện khi ông cấm phụ nữ trong nhà máy của mình ăn vặt vì sợ làm bẩn máy tính, nhưng khi không cấm được đồng thời nhận ra lợi thế của mình chính là đồ ăn vặt, ông đã tạo hẳn một bàn ăn vặt cho mọi người. Ông dần dần cải tiến sản phẩm và biến ô mai – một thứ nhỏ nhắn lên một đẳng cấp mới: hộp dẹt với khối lượng nhỏ hơn, bày trí cửa hàng đẹp hơn và từ đó rút ra 3 quy luật của chị em: “Khi mua thì thích được thêm, khi thanh toán thích được bớt và quan trọng nhất là sản phẩm phải long lanh” – ông Lam vừa tâm đắc vừa chỉ vào áo đồng phục màu cam ông mặc đến sự kiện.

Tóm lại là khách cần gì ta làm nấy, đối thủ không làm thì ta càng cần phải làm. Ông Lam nhờ cách chia sẻ gần gũi, dễ hiểu, đơn giản hóa những vấn đề tưởng phức tạp nhưng không kém phần trực quan đã thu hút hàng trăm người tham dự trong khán phòng.

Ngày 03/11 và 11/11/2018, serie đầu tiên của diễn đàn Business Talk Forum mang tên “Marketing Giỏi Phải Kiếm Được Tiền” tổ chức bởi Viện Tiếp thị & Kinh doanh Ứng dụng – Sage Academy diễn ra tại 2 thành phố lớn: TP. Hồ Chí Minh và Hà Nội, thu hút gần 1000 đại diện các doanh nghiệp gồm: chủ doanh nghiệp, giám đốc và các nhà quản lý Marketing.

Ngoài ra, sự kiện Marketing Giỏi Phải Kiếm Được Tiền tại Hà Nội sẽ được phát sóng livestream trên fanpage của học viện Sage vào lúc 13h30 ngày 13/11. Quý vị có thể theo dõi tại đây.

 

Có thể bạn quan tâm:

> Những điểm nhấn ấn tượng tại sự kiện Marketing Giỏi Phải Kiếm Được Tiền

Khóa huấn luyện Tổng quan về Marketing & Kỹ năng trả lời trên MXH cho Công ty Vinaphone

Nhìn lại sự kiện Sage Talks #16: CMO – Marketing Strategy Shifting 1.0 – 4.0

 

Marketers tối ưu hóa chiến lược với 10 sự thay đổi mới về Facebook

Written by

Facebook còn là một nền tảng thường xuyên thay đổi thuật toán, buộc người làm marketing cần phải cập nhật những kiến thức mới để tối ưu hóa các chiến lược, chiến dịch.

Dưới đây là những cập nhật về những thay đổi Facebook sẽ ảnh hưởng đến cách thức marketing trong năm 2019:

1. Mua sắm trên Instagram Stories

Những đoạn video ngắn (Stories) sẽ là kênh bán hàng quan trọng trong tương lai. Bạn hãy tạo thêm những trải nghiệm mua sắm bằng cách tăng tương tác và độ hấp dẫn cho cửa hàng bằng những video Stories trên Instagram.

Người dùng sẽ xem được các chi tiết của món hàng, sau đó, họ sẽ click vào đường link để chuyển sang website và thực hiện chốt đơn hàng.

2. Quảng cáo bằng tương tác thực tế ảo (AR)

Với quảng cáo thực tế ảo (AR), thương hiệu có phương tiện để kết nối sâu hơn với khách hàng, bằng cách giúp họ tương tác, hình dung và trải nghiệm sản phẩm ngay trên nền tảng Facebook.

Người dùng sẽ bị hấp dẫn bởi những lời mời “call-to-action” như “Nhấp vào để thử”, click vào mẫu quảng cáo để xem các dịch vụ và sản phẩm của doanh nghiệp.

3. Quảng cáo với Facebook Stories

Cũng với nền tảng Stories tương tự Instagram, Facebook tăng cường trải nghiệm cho người dùng.

Stories của Facebook không thực sự thành công như người anh em Instagram nhưng loại quảng cáo này dần trở nên phổ biến, cung cấp nhiều tùy chọn hơn để thương hiệu tiếp cận khách hàng.

4. Playable Ads – Mồi nhử “dùng thử miễn phí”

Facebook vừa bổ sung tính năng Playable Ads để quảng cáo các ứng dụng, game, cho phép người dùng được “Thử trước khi mua”.

Khi được dùng thử miễn phí, tâm lý người dùng sẽ thoải mái hơn, dễ dàng cài đặt ứng dụng hơn và nhờ vậy, doanh nghiệp có cơ hội bán được một ứng dụng cao hơn.

5. Facebook cập nhật cho Fanpage

Facebook có những cập nhật mới, thêm tính năng Recommendation Tools (Công cụ đề xuất) và Connection Options (Tùy chọn kết nối). Sự cập nhật này giúp Fanpage của doanh nghiệp tối đa hóa sự hiện diện của mình trên nền tảng, và tăng cường hiệu quả truyền miệng của khách hàng hơn.

Trước hết, Facebook đã thêm phần Recommendation vào Page cho phép người dùng đăng những đánh giá về doanh nghiệp,…

Tính năng Recommendation yêu cầu người dùng viết ít nhất 25 ký tự để bài đánh giá đầy đủ ý nghĩa hơn. Đặc biệt, người dùng có thể gắn các thẻ liên quan đến doanh nghiệp. Nó tương tự như Hashtag trước đây, nhằm giúp người dùng có thể hiểu được doanh nghiệp của bạn một cách dễ dàng nhất, chỉ bằng cách thông qua các từ khóa. Đồng thời, những từ khóa này cũng sẽ giúp Facebook phân loại doanh nghiệp của bạn cho các tìm kiếm liên quan.

Ngoài ra, Facebook cho phép Page tạo một “nút hành động nổi bật” trên Pages, để khách truy cập thực hiện các thao tác như đặt lịch hẹn, đặt món ăn, gửi tin nhắn hoặc viết Recommendation.

Những cập nhật trên giúp người dùng hiểu rõ hơn về Page họ truy cập, và hiểu hơn về những gì họ mong đợi dựa trên những trải nghiệm của những khách hàng trước đó.     

6. Tái thiết kế cho bản Di động

Giao diện của Fanpage trên các thiết bị di động đã được thiết kế lại để dễ dàng điều hướng hơn, nhằm thúc đẩy hành động nhiều hơn.

Người dùng sẽ mua một món hàng, đặt một món ăn ngay trên chiếc điện thoại của mình. Vì thế, hãy chắc chắn bạn dựa trên thói quen, hành vi, tâm lý của người dùng để tạo nên thiết trang và Nút kêu gọi hành động phù hợp. Việc này sẽ tác động trực tiếp đến doanh số của bạn.

7. Cập nhật số liệu video

Facebook vừa cập nhật số liệu quảng cáo video để giúp nhà quảng cáo có những điều chỉnh, xử lý tốt hơn về mức độ tương tác video, và tối ưu hóa quảng cáo dựa trên hành vi đó.

8. Tự nâng cao thương hiệu trong Test and Learn

Facebook cũng đã triển khai các tùy chọn để người làm quảng cáo tự kiểm tra và tìm hiểu cách một chiến dịch quảng cáo trên Facebook tác động đến thương hiệu của bạn. Đây là một công cụ rất hữu ích mà doanh nghiệp cần tìm hiểu ngay để cải thiện hiệu quả thực hiện social media của mình.

9. Video Creation Kit

Việc tạo video vẫn là khó khăn đối với doanh nghiệp bạn? Không sao, Facebook ra mắt công cụ Video Creation Kit – bộ công cụ tạo video sẽ biến những tấm ảnh hiện có thành clip, và tối ưu cho thiết bị di động.

10. Đánh giá – tìm kiếm đối tượng – Lookalike Audiences

Facebook tìm kiếm những tệp khách hàng tương tự như những đối tượng mục tiêu hiện tại của bạn. Bằng cách xác định và tiếp thị cho những người gần với khách hàng của bạn nhất, Facebook giúp bạn tăng khả năng bán được hàng, tăng lợi nhuận trên chi tiêu quảng cáo, và tối đa hóa các tương tác theo thời gian.

Trên đây là 10 sự thay đổi mới về Facebook giúp cho những người theo lĩnh vực marketing cập nhật để không đi sau thời đại.

Nguồn: Doanh nhân Sài Gòn

Có thể bạn quan tâm:

> Đại gia bán lẻ AEON và 3 thương vụ không thành công ở Việt Nam

> VinFast Klara – chiếc xe nhỏ nhắn cùng giấc mơ “xanh” hóa phương tiện 

> Business Model Canvas – Mô hình quyền lực cho các CMO


Liệu định vị thương hiệu có chịu ảnh hưởng từ quốc gia xuất xứ?

Written by

Những công ty đến từ một số quốc gia nhất định có thể hưởng lợi từ danh tiếng, hình ảnh tích cực của nơi xuất xứ.

Năm 1887, chính phủ Anh thông qua đạo luật bắt buộc các sản phẩm được sản xuất bên ngoài nước Anh phải dán nhãn quốc gia xuất xứ để bảo vệ hàng hóa bản xứ khỏi tình trạng bị sao chép kém chất lượng. Cho đến ngày nay, nhãn xuất xứ “Made in…” có lẽ là một trong những yếu tố ảnh hưởng lớn nhất, cả trong nghĩa tích cực và tiêu cực, đối với nhận thức của người tiêu dùng, thuộc tính giá trị của hàng hóa và hành vi mua sắm.

Thời gian gần đây, nhiều công đoạn sản xuất được chuyển sang các nước đang phát triển, nhưng ngay cả những thương hiệu mạnh nhất như Apple vẫn e ngại tác động tiêu cực của quốc gia xuất xứ (country of origin – COO) và phải in dòng chữ “Designed by Apple in California” (thiết kế bởi Apple ở California) trước khi dán nhãn “Assembled in China” (được lắp ráp ở Trung Quốc) lên các sản phẩm của họ.

Một số quốc gia trở thành hình ảnh đại diện cho chất lượng xuất sắc trong một số ngành hàng nhất định, chẳng hạn nước Pháp nổi tiếng với rượu, nước Đức với xe hơi, Nhật Bản với hàng điện tử và Hoa Kỳ với sản phẩm công nghệ. Điều này ảnh hưởng mạnh đến nhận thức của người tiêu dùng đối với sản phẩm và dịch vụ của một công ty, tùy thuộc vào xuất xứ của sản phẩm đó.

Chính vì vậy, những công ty đến từ một số quốc gia nhất định có thể hưởng lợi từ danh tiếng, hình ảnh tích cực của nơi xuất xứ. Trong khi đó, các công ty khởi nghiệp đến từ những nền kinh tế mới nổi hoặc các thị trường đang chuyển đổi – chưa tạo dựng được sự ghi nhận mạnh mẽ trong bất cứ ngành hàng nào – sẽ đối mặt với ảnh hưởng tiêu cực về COO, hoặc ít nhất phải cạnh tranh với những nền kinh tế vốn có ảnh hưởng tích cực hơn về xuất xứ sản phẩm.

Theo một khảo sát của World Advertising Research Centre, 81% người Mỹ thích sản phẩm của Nhật Bản hơn sản phẩm của Trung Quốc. Ngoài Nhật, Hàn Quốc và Đài Loan, người tiêu dùng phương Tây khó liên tưởng các quốc gia châu Á với một lợi thế cạnh tranh nào khác hơn là giá thấp – chất lượng thấp.

Nhưng gần đây cũng đã xuất hiện những ví dụ tích cực đối với xuất xứ thương hiệu từ châu Á mà trường hợp điển hình là Hàn Quốc. Người tiêu dùng đang dần biết đến Hàn Quốc như một trong những nơi tạo trào lưu mới trong lĩnh vực làm đẹp, không chỉ ở châu Á mà cho cả thế giới. Hàn Quốc hiện giờ đã vượt qua Nhật Bản như một hình mẫu cho vẻ đẹp châu Á và khi mở rộng ra thị trường ngoài nước, các thương hiệu mỹ phẩm và chăm sóc da của họ sẽ được lợi từ giá trị tích cực mà xuất xứ thương hiệu mang lại. Trong khi đó, nhờ vào sự vươn lên mạnh mẽ trên thị trường toàn cầu, thương hiệu Samsung cũng đã có ảnh hưởng tích cực đến giá trị thương hiệu quốc gia của Hàn Quốc.

Để có thể tồn tại, vượt qua những bất lợi liên quan đến COO và phát triển, khẳng định vị trí trên thị trường quốc tế, các thương hiệu đến từ các nước Đông Âu, châu Á đã vận dụng những phương cách dưới đây:

Tập trung nâng cao chất lượng và truyền thông về những thành quả

Chất lượng cao cùng với cam kết mạnh mẽ nhằm đáp ứng nhu cầu của khách hàng, độ linh hoạt cao và giá cả cạnh tranh sẽ làm nên khác biệt.

Xây dựng thương hiệu là điều bắt buộc

“Branding” là một thuật ngữ thường bị hiểu sai ở những quốc gia mà sự liên tưởng về nguồn gốc xuất xứ không mạnh. Hầu hết các nhà quản trị vẫn còn tin rằng hoạt động thương hiệu liên quan đến cách công ty sử dụng logo, bao bì và quảng cáo, trong khi bất cứ hoạt động nào góp phần tạo ra trải nghiệm khác biệt cho khách hàng cần được xem là hoạt động thương hiệu. Nếu có ý định vượt qua những bất lợi về quốc gia xuất xứ và phát triển ở thị trường nước ngoài trong dài hạn, các thương hiệu cần phải hành động nhiều hơn, chứ không đơn thuần chỉ “tiếp thị giả tạo” là đủ.

Tận dụng các đối tác bên ngoài

Đó có thể là hợp tác trực tiếp như liên doanh, liên minh chiến lược, hợp tác với các đại lý, hoặc hợp tác gián tiếp ở dạng tạo “hiệu ứng tràn” cho thương hiệu.

Mặc dù các thương hiệu Trung Quốc thường được xem là “tiền nào của nấy”, nhưng nhận thức toàn cầu về sự sáng tạo và thiết kế, mẫu mã của thương hiệu Trung Quốc đang có sự cải thiện nhờ vào những liên minh “có chất lượng”: Lenovo-IBM, Apple-Foxconn hay Huawei với Motorola, 3Com và Symantec.

Sử dụng truyền thông và tạo sự hiện diện quốc tế

Để tạo niềm tin, các doanh nghiệp – đặc biệt là công ty startup có thể tìm sự bảo chứng tích cực từ những khách hàng nổi tiếng, tham dự các hội chợ và hội nghị để có được sự hiện diện quốc tế hoặc trở thành thành viên của các tổ chức và hiệp hội để tiếp xúc với đối tác và khách hàng tiềm năng.

Doanh nghiệp có thể thiết lập hoạt động thật sự tại nước ngoài – những thị trường dẫn đầu trong lĩnh vực kinh doanh của doanh nghiệp và xây dựng một hình ảnh quốc tế. Chẳng hạn, NQ Mobile – công ty an toàn viễn thông xuất xứ từ Bắc Kinh đã thành lập một tổng hành dinh tách riêng ở Texas, Mỹ cho việc điều hành kinh doanh ở các thị trường phát triển, do một cộng đồng CEO người Mỹ quản lý và gồm toàn nhân viên người Mỹ.

Nguồn: Doanh nhân plus

Có thể bạn quan tâm:

> Phân tích chiến dịch Baby Shark đưa Shopee bay cao khắp Đông Nam Á

> Điện máy xanh và TVC gây ám ảnh với câu hát “nổi da gà”

> VinFast Klara – chiếc xe nhỏ nhắn cùng giấc mơ “xanh” hóa phương tiện


Đại gia bán lẻ AEON và 3 thương vụ không thành công ở Việt Nam

Written by

Sau 10 năm có mặt tại Việt Nam và 4 lần hợp tác với các đối tác trong nước nhưng đến nay chưa có lần hợp tác nào mang lại quả ngọt cho ông lớn bán lẻ đến từ Nhật Bản này.

Aeon quyết định chia tay với Fivimart cuối tháng 9 vừa qua, đây cũng là cái tên cuối cùng trong chiến dịch hợp tác rầm rộ trước đó của Aeon khi gia nhập thị trường Việt Nam từ năm 2008. Nhìn lại 10 năm qua với 3 lần hợp tác thương hiệu tại đây, đại gia bán lẻ đến từ Nhật Bản này dường như chưa tìm được tiếng nói chung và cũng chưa thu được nhiều giá trị về tài chính.

Bắt tay 2 ông lớn nội địa

Từ năm 2008, khi nền kinh tế Việt Nam vẫn còn nhiều khó khăn, Aeon đã cử các chuyên gia của mình sang khảo sát thị trường và mở văn phòng đại diện tại đây. Những hoạt động đầu tư thầm lặng của Aeon khiến cái tên này còn khá xa lạ với cả người tiêu dùng lẫn giới đầu tư trong nước. Khi liên doanh G7-Ministop ra đời năm 2011, Aeon (cùng với Trung Nguyên) là một trong hai “ông chủ” của hệ thống này. Tuy nhiên, do những mâu thuẫn trong quá trình hợp tác giữa hai bên nên liên doanh này bị thất bại. Cái tên Aeon vẫn chưa được mấy ai biết đến.

Chỉ tới đầu năm 2014, khi Aeon chính thức đưa vào hoạt động Trung tâm Thương mại Aeon Mall Celadon Tân Phú (TP.HCM) với quy mô 3,5 ha, nhiều người mới bất ngờ. Và rất nhanh sau đó, đến cuối năm 2014, nhà bán lẻ lớn từ nước Nhật tiếp tục khai trương đại siêu thị Aeon Mall Canary Bình Dương với quy mô lên tới 6 ha.

Sau khi đánh dấu sự có mặt hoành tráng của mình ở Việt Nam với mô hình đại siêu thị, Aeon xoay chiến lược với việc hợp tác với các thương hiệu nội địa mới nổi để tăng độ nhận diện thương hiệu. Hai cái tên được chọn liên tiếp sau đó là hai hệ thống siêu thị Citimart ở phía Nam (2014) và Fivimart ở phía Bắc (2015). Qua những cái bắt tay này, tạo ra hai liên doanh mới với tên gọi AeonCitimart và AeonFivimart. Trong đó, Aeon nắm 30% cổ phần của Fivimart và 49% cổ phần của Citimart.

Nhờ chiến lược hợp tác với các siêu thị lớn trong nước, tập đoàn bán lẻ của Nhật đã hoàn thành mục tiêu “Một mũi tên trúng hai đích” là vừa tăng tốc phát triển tại thị trường Việt Nam, vừa nâng cao nhận thức của người tiêu dùng trong nước về thương hiệu Aeon. Nếu nhìn vào chuỗi 30 siêu thị của Citimart và chuỗi 20 siêu thị của Fivimart trên khắp cả nước, có thể hiểu được tham vọng của Aeon là rất lớn.

Lý giải về việc lựa chọn Citimart và Fivimart, ông Yukio Konishi, Tổng giám đốc Aeon Mall Việt Nam, cho biết khi vào thị trường Việt Nam, Aeon mong muốn hợp tác với những doanh nghiệp nhỏ và vừa đang trong giai đoạn phát triển, đã đạt được những thành công nhất định để hai bên cùng nỗ lực để phát triển mạnh mẽ hơn.

Ngoài ra, không loại trừ khả năng Aeon sẽ tiếp tục lấn sâu vào ngành bán lẻ nội địa thông qua những thương vụ M&A, tương tự như cách làm với Citimart và Fivimart. “Nếu có nhiều thương hiệu nội địa tốt thì chúng tôi sẽ suy nghĩ đến việc mua thêm”, ông Konishi cho biết.

Hợp tác với Citimart, Fivimart liên tục lỗ

Tuy nhiên, sau một thập kỷ, nhìn lại tất cả các mối quan hệ này vẫn chưa cái bắt tay nào đạt được kỳ vọng như tuyên bố ban đầu. Ở một góc nhìn khác thì chỉ thấy được sự khả quan trong kết quả kinh doanh của hệ thống 4 trung tâm thương mại độc lập của Aeon. Trong khi đó các mô hình liên kết thường không đem lại kết quả kinh doanh tốt.

Cụ thể, với 4 siêu thị hoạt động độc lập, trong năm 2016, doanh thu Aeon Việt Nam đã tăng lên 3.883 tỷ đồng, gấp 3 lần năm 2014 và lợi nhuận trước thuế 54 tỷ đồng. Năm 2017, doanh thu tăng hơn 30%, đạt 5.136 tỷ đồng và lãi trước trước thuế 234 tỷ đồng, gấp hơn 4 lần năm trước đó.

Tuy nhiên với các thương vụ hợp tác tình hình kinh doanh của Fivimart, Citimart lại có dấu hiệu đi xuống. Trong đó rõ rệt nhất là hệ thống siêu thị Fivimart khi 3 năm tài chính liên tiếp đều ghi nhận lỗ ròng dù số lượng siêu thị đã tăng gấp đôi. Cụ thể, năm 2016 hệ thống ghi nhận mức lỗ 96 tỷ, đến năm 2017 con số lỗ lũy kế lên tới gần 200 tỷ đồng. Nợ phải trả ngang bằng với tổng tài sản của công ty ở mức hơn 800 tỷ đồng.

Trong khi đó, Citimart cũng đối diện với tình hình tiêu cực dù doanh thu của chuỗi siêu thị này có tăng trưởng khoảng 15%, đạt gần 1.600 tỷ đồng trong năm 2016. Tuy nhiên, nhìn vào cơ cấu tài chính lỗ lũy kế ghi nhận lên tới 157 tỷ đồng.

Đa dạng mô hình kinh doanh thông qua liên kết và phát triển hệ thống đại siêu thị là chiến lược tiếp cận và từng bước chiếm lĩnh thị trường bán lẻ Việt Nam của Aeon.

Chưa tìm được tiếng nói chung

Cách Aeon triển khai hoạt động kinh doanh tại Việt Nam cho thấy, họ nhắm tới một đích đến xa hơn khi triển khai các chân rết của mình ở những địa điểm chiến lược, nhất quán và cùng khai thác kinh doanh tổng lực với các nhà bán lẻ khác. Tuy nhiên những mắt xích liên kết của hệ thống này vẫn chưa có được tiếng nói chung sau nhiều năm tìm đến nhau.

Trong thông cáo mới nhất về việc chia tay với Fivimart, ông lớn bán lẻ này cho biết giữa Fivimart và Aeon trong khi thương lượng chiến lược tăng trưởng, mong muốn thực hiện nâng cao cuộc sống của người tiêu dùng và phát triển thị trường bán lẻ của Việt Nam là như nhau.

Tuy nhiên, trong phương hướng, tư tưởng, tầm nhìn chiến lược của hai công ty có sự khác nhau rõ ràng. Vì vậy, hai công ty đã thương lượng và đi đến đồng ý hủy bỏ hợp tác nhằm để mỗi bên xúc tiến chiến lược tăng trưởng, đầu tư vào việc cải thiện giá trị công ty, thay vì tiếp tục việc hợp tác nghiệp vụ, liên kết vốn.

Việc khác biệt về tư duy cũng được nhắc đến ở thời điểm Trung Nguyên công bố việc ký hợp tác với Ministop (Aeon sở hữu) phát triển chuỗi G7 của mình. Nhiều người cho rằng đây là cơ hội “giải cứu” chuỗi cửa hàng G7 Mart đang kinh doanh thất bại ở thời điểm đó. Tại một buổi họp báo hồi năm 2010, lãnh đạo G7 cho biết hai bên sẽ thành lập liên doanh, trong đó G7 chiếm 75% cổ phần và Ministop đóng góp 25%, với số vốn ban đầu trên 10 triệu đô la Mỹ, mục tiêu phát triển 500 cửa hàng trong vòng 5 năm.

Tuy nhiên, đây là con số mà nhiều người cho là “quá tham vọng”. Bởi lẽ một số chuỗi cửa hàng tiện lợi lớn đã có mặt ở Việt Nam sớm hơn còn chưa đặt ra mục tiêu cao như vậy do việc tìm địa điểm ở hai thành phố lớn Hà Nội và TPHCM là rất khó khăn, giá thuê đắt đỏ. Trong khi đó, nhiều người tiêu dùng vẫn có thói quen mua hàng ở các cửa hàng tạp hóa truyền thống. Thực tế sau gần 5 năm hợp tác, chuỗi cửa hàng Ministop chỉ dừng lại ở 17 điểm bán.

Giới quan sát cho rằng có khả năng hàng trăm cửa hàng của G7 Mart chưa thật sự phù hợp với điều kiện mà Ministop đề ra. Mặt khác, đa số đây là những điểm kinh doanh do G7 “nâng cấp” từ các cửa hàng tạp hóa truyền thống thông qua việc nhượng quyền kinh doanh, chứ không phải do chính G7 đầu tư.

Có lẽ sự khác biệt về tư duy kinh doanh khiến cho 10 năm qua Aeon vẫn chưa tìm được đối tác hoàn hảo.

Nguồn: Zing News

Có thể bạn quan tâm:

> Đánh vào tâm lý chung, Coca Cola tìm ra chiến lược lôi kéo giới trẻ thành công

> Phân tích chiến dịch Baby Shark đưa Shopee bay cao khắp Đông Nam Á

> Starbuck “chơi” an toàn với các thiết kế trong mùa lễ hội 2018


Phân tích chiến dịch Baby Shark đưa Shopee bay cao khắp Đông Nam Á

Written by

“Cùng Shopee pi pi pi pi pi…”, chắc trong đầu bạn tới giờ vẫn còn văng vẳng bài hát của cặp đôi Bảo Anh – Tiến Dũng? Nếu thế thì bạn chính là một trong hàng triệu khách hàng đã bị Shopee quyến rũ bằng chiến dịch quảng cáo viral đầy hiệu quả này.

Thật vậy, theo bảng xếp hạng mới của công ty so sánh giá iPrice, trong quý 3 vừa qua, sàn mua bán Shopee đã lần đầu tiên đạt số lượt truy cập website trung bình cao nhất cả nước.

Shopee đã có một bước nhảy vọt khi số lượt truy cập website của họ tăng đến hơn 30%, đưa họ từ vị trí thứ ba lên dẫn đầu.

Đáng chú ý là xu hướng này không chỉ xuất hiện ở Việt Nam mà theo iPrice, Shopee đang tăng trưởng tốt về lượt truy cập website ở khắp Đông Nam Á. Ở Malaysia, Indonesia, Philippines và Thái Lan, số lượt truy cập của họ đều tăng trong khi nhiều đối thủ bị sụt giảm.

Điều này chắc chắn nhờ một phần không nhỏ từ chiến dịch Baby Shark đang được Shopee áp dụng trên toàn khu vực.

Vậy có các yếu tố nào đã làm nên thành công cho chiến dịch này?

Shopee phủ sóng áp dụng toàn Đông Nam Á

Indonesia và Thái Lan là các thị trường đầu tiên được Shopee chọn để bắt đầu campaign này. Tiếp theo đó, campaign gây nghiện của Shopee được lần lượt giới thiệu đến Việt Nam, Malaysia, Philippines và Singapore.

Ở mỗi nước thì tuy có một số thay đổi nhằm bản địa hóa nhưng mô típ chung vẫn được Shopee giữ nguyên: vẫn là bài hát Baby Shark cùng điệu nhảy dễ thương trình diễn bởi hai nhân vật nổi tiếng.

Và dù là ở nước nào, TVC của Shopee cũng viral. Ở Indonesia, video Shopee Shark đạt đến 83 triệu view, còn ở Việt Nam và Thái Lan, con số này cũng đã xấp xỉ 50 triệu. Ngay cả ở Singapore, nơi mà Shopee chỉ mới bắt đầu chiến dịch cách đây 1 tuần, thì TVC này cũng đã lập tức gây sự chú ý, trở thành đề tài bàn tán cho cộng đồng mạng và báo chí.

Lời bài hát ngắn gọn, bắt tai

Có được thành công mang tính quốc tế như vậy, chính là nhờ Shopee đã áp dụng một công thức chung hoàn hảo: bài hát Baby Shark.

Bài hát này vốn là bài nhạc thiếu nhi đã viral trước đó, nay được Shopee khéo léo lồng thương hiệu của mình vào. Việc chọn một bài hát thiếu nhi cũng là một quyết định thông minh: nhạc thiếu nhi thường ngắn gọn, bắt tai mà lại dễ thuộc, là công thức hoàn hảo cho các chiến dịch viral.

Kèm theo đó, cái tên Shopee lặp đi lặp lại suốt bài cũng làm tăng nhận biết cho thương hiệu và khiến người tiêu dùng dễ dàng liên tưởng đến Shopee mỗi khi nghe thấy giai điệu bài hát.

Còn nhớ vào năm ngoái, thị trường bán lẻ cũng có một campaign khác rất thành công là bài hát của Điện Máy Xanh. Thời điểm đó cứ nhắc đến điện máy là người ta nghĩ đến Điện Máy Xanh. Tuy chưa đạt đến mức độ thành công như vậy nhưng có thể thấy Shopee cũng đang muốn áp dụng công thức viral này để cứ nhắc đến shopping là khách hàng sẽ nhớ đến Shopee.

Có yếu tố gây tranh cãi

Có một điểm đáng chú ý là tuy viral nhưng không phải ai cũng đón nhận bài hát của Shopee một cách tích cực.

Cụ thể, video có sự xuất hiện của Bảo Anh – Tiến Dũng tuy đạt được 33 nghìn lượt like trên YouTube nhưng đồng thời cũng có đến 14 nghìn lượt dislike. Dạo một vòng qua các comment thì cũng sẽ thấy nhiều ý kiến trái chiều. Trong đó, có không ít comment chê nội dung clip đồng thời than phiền về giai điệu “ám ảnh” của bài nhạc.

Nhưng chính những tranh cãi trái chiều đó lại càng khiến campaign của Shopee nổi bật hơn.

Cụ thể, theo số liệu từ Google Trends thì chỉ trong vòng 1 tháng sau khi quảng cáo này xuất hiện ở Việt Nam thì từ khóa “quảng cáo Shopee” đã được tìm kiếm nhiều hơn gấp 3 lần. Ngay cả những người than phiền trên YouTube cũng thú nhận là họ phải tìm xem video này vì quá tò mò.

Một cái hay của campaign này nữa chính là ở chỗ các đoạn quảng cáo của Shopee rất ngắn, chỉ vỏn vẹn 30 giây, nên dù có “ám ảnh” thì cũng không gây quá nhiều phiền nhiễu cho người xem.

Sử dụng người nổi tiếng

Shopee đã rất nhanh nhạy trong việc mời Bảo Anh và Tiến Dũng cho video clip của mình tại Việt Nam.

Đây là hai nhân vật influencer tương đối “sạch”, không có scandal nhưng lại rất nổi bật vào thời điểm hiện tại: Tiến Dũng với những thành công ở đội tuyển Olympic và Bảo Anh với các hit âm nhạc. Đặc biệt hơn là khác với những cái tên đã quá quen thuộc với khán giả như Sơn Tùng, Trấn Thành, Đông Nhi… Tiến Dũng và Bảo Anh tham gia đóng quảng cáo tương đối ít nên sự xuất hiện của họ trong video của Shopee sẽ gây được nhiều sự chú ý hơn.

Shopee cũng đồng thời rất biết tranh thủ các tin đồn trong cộng đồng mạng về quan hệ tình cảm của cặp đôi này để tạo câu chuyện, gây hiệu ứng lan tỏa.

Lời kết

Thành công của Shopee cũng như của Điện Máy Xanh trước đó cho thấy rõ ràng để chạy một chiến dịch viral hiệu quả, bạn không nhất thiết phải có các ý tưởng thật phức tạp, thật bay bổng mà cái quan trọng vẫn là phải có dấu ấn riêng và đúng insights người xem.

Nguồn: Brandsvietnam

Có thể bạn quan tâm:

> Pepsi mất trắng 40% thị phần tại Venezuela trong 1 ngày vì quyết định sai lầm này

> Starbuck “chơi” an toàn với các thiết kế trong mùa lễ hội 2018

> Điện máy xanh và TVC gây ám ảnh với câu hát “nổi da gà”


Starbuck “chơi” an toàn với các thiết kế trong mùa lễ hội 2018

Written by

Với tháng 10 vừa qua, Starbucks đã dành rất nhiều thời gian để đưa ra dòng sản phẩm Pumpkin Spice Latte – mỗi một loại thức uống sẽ kết hợp cùng một chiếc cốc theo mùa. Năm nay, thương hiệu này đang “chơi” một cách an toàn với các thiết kế dường như không hứng thú và kích thích phản ứng của khách hàng như một số phiên bản packaging trước đây.

Bốn chiếc cốc này có mang hơi hướng retro được lấy cảm hứng từ sự thừa kế về cà phê và các mùa. Ngoài ra nó còn thúc đẩy thái độ bảo vệ môi trường. Những người yêu cầu một trong sáu loại đồ uống trong kỳ nghỉ vào ngày 2 tháng 11 sẽ nhận được một chiếc cốc đỏ tái sử dụng miễn phí.

Mỗi năm, Starbucks và các chuỗi cửa hàng khác đều giới thiệu thiết kế cho mùa lễ hội cuối năm và các sản phẩm dành cho kỳ nghỉ đông, như cà phê Giáng sinh Blend của Starbucks. Với sự thống trị của nó, những chiếc cốc từ Starbucks thu hút sự chú ý nhất, mặc dù một số lời phàn nàn.

Ví dụ, vào năm 2015, các nhà phê bình cho rằng ly ombre đỏ không đủ không khí Giáng sinh. Những nỗ lực năm 2017 đã khuấy động tranh cãi nhỏ đã mang lại hiệu ứng tốt. Một số nhóm người rất hưởng ứng về một cặp đôi đồng tính nữ trong một TVC phim hoạt hình cùng với một nụ hôn ngọt ngào và hình ảnh một đôi nắm tay được in trên cốc. Những người khác nói rằng họ đã bị mất cảm hứng bởi những gì họ cho là hình ảnh quyền ủng hộ đồng tính.

Với kế hoạch năm nay, Starbucks đang chơi khá an toàn. Bốn chiếc cốc dùng một lần bao gồm các thiết kế: một cái màu đỏ, sọc, một màu xanh lá cây và trắng “Stargyle”, houndstooth màu đỏ trắng và holly cùng quả mọng.

Một điểm nhấn cho hình ảnh mùa đông là hình ảnh  một người phụ nữ nhận được hai Peppermint Mochas đi trên đường. Cô nhấm nháp một lần trên đường đi bộ, dường như cô cảm thấy ấm áp bởi đồ uống của mình, cô có thể đi xuống các đường lớn với chiếc áo choàng trên vai, không cần mũ hoặc găng tay, kể cả khi tuyết rơi xung quanh cô.

Starbucks đã làm việc với 72andSunny trong quảng cáo “Sip a Cup of Magic”. Một quảng cáo kết hợp giữa thương mại số và tính xã hội đến từ Big Spaceship, print-ads và quảng cáo ngoài trời đã được giảm xuống bởi phòng sáng tạo của Starbucks. Starbucks cho biết họ có kế hoạch để làm nổi bật một số nhân viên của mình trong chiến dịch, chẳng hạn như anh em nghệ sĩ baristas có một ban nhạc, cũng như một người mẹ cùng làm việc với các cô con gái tuổi teen của mình.

Starbucks đã phát hành các thiết kế cốc vào kỳ nghỉ theo các mùa hàng năm kể từ năm 1997. Các đồ uống ngày lễ trở lại vào thứ Sáu là Peppermint Mocha, Nướng trắng sô cô la Mocha, Caramel Brulee Latte, Chesnut Praline Latte, Gingerbread Latte và Egg Nog Latte.

Những người có ly màu đỏ có thể tái sử dụng có thể nhận được 50 xu giảm giá mua đồ uống vào ngày lễ sau 2 giờ chiều. Từ ngày 3 tháng 11 đến ngày 7 tháng 1 khi họ mang theo những chiếc cốc này, một cách thức của Starbucks để cố gắng thúc đẩy hoạt động kinh doanh của mình vào buổi chiều và buổi tối.

Doanh số tại các địa điểm lâu đời tại Mỹ của Starbucks chỉ tăng 1% trong quý 3, kết thúc vào ngày 1/7. Một lý do cho sự tăng trưởng chậm chạp là lượng khách giảm vào buổi chiều, đặc biệt là bắt đầu lúc 2 giờ chiều – CEO Kevin Johnson cho biết. . Starbucks đã cố gắng để giải quyết điểm yếu trong năm nay bằng cách chạy quảng cáo nhấn mạnh các cửa hàng của nó như là một điểm đến buổi chiều.

Nguồn: Advertising Age

Có thể bạn quan tâm: 

>> Đừng vội tin vào 9 điều sau khi làm Digital Marketing

>> Đừng mải chạy theo Digital mà quên mất các kênh Offline

>> Khẩu vị người Việt: Trà hay Cà phê?

Chiến lược Marketing giúp Apple trở thành bá chủ “thung lũng Silicon”

Written by

Apple là một thương hiệu đẳng cấp, được định giá cao và thuyết phục người dùng bỏ ra nhiều tiền để trải nghiệm sản phẩm của họ. Thế nhưng, khác với những mặt hàng đắt đỏ kén người mua, sức hút của Apple lại thể hiện rất rõ nét mỗi khi thương hiệu này tung ra sản phẩm mới.

Ngược về quá khứ cách đây hơn hai thập kỷ, có lẽ không nhiều người biết rằng Apple đã suýt phá sản và có thời gian khủng hoảng thất bại. Steve Jobs rời Apple vào năm 1985, ông đã bị đuổi tại chính nơi mà ông tạo ra, những khoảng 10 năm sau ông đã trở lại và mọi chuyện bắt đầu chính từ đây.

Sau khi ông trở lại, ông chính là người đặt nền móng cho sự phát triển và hình thành ý tưởng tạo nên mẫu điện thoại mà bây giờ phải đến hơn 90% số người nhận diện được thương hiệu của Apple. Sự ra mắt của Iphone 2G vào năm 2007 đã đánh dấu bước ngoặt, Apple đã cho thế giới thấy định nghĩa hoàn toàn khác về điện thoại là như thế nào và trải nghiệm màn hình cảm ứng hoàn hảo ra sao. Sau đó là sự phát triển thần kỳ với sự ra mắt của các dòng điện thoại như:

• Năm 2008: Iphone 3G

• 2009: Iphone 3GS

• 2010: Iphone 4G

• 2011: Iphone 4GS

• 2012: Iphone 5

• 2013: Iphone 5S/5C

• 2014: Iphone 6/6 Plus

• 2015: Iphone 6S / 6S Plus

• 2016: Iphone SE / 7/7 khác

• 2017: Iphone 8/8 plus / X

 

photo-1530319067432-f2a729c03db5

 

Gần đây nhất là màn chào sân của Iphone XS vào ngày 12/9 với sự theo dõi của hàng triệu fan hâm mộ toàn thế giới hướng về hội trường “Steve Jobs threater”. Apple nổi danh với một chiến lược Marketing chạm đến sự hoàn hảo và để có được chỗ đứng như bây giờ thì những bước đi của Apple thực sự khiến các Marketer phải khâm phục. Hãng được coi là hoàn hảo trong mọi quy trình và chiến lược Marketing của Apple không phải là ngoại lệ, hãy cùng xem những gì hãng đã làm để tạo ra một thương hiệu hùng mạnh như bây giờ.

Thành công của Apple là quảng cáo dựa vào chính trải nghiệm khách hàng

Trên thị trường hiện nay thật dễ dàng nhìn thấy nhiều doanh nghiệp sử dụng quảng cáo PPC với Google hay Facebook. Không thể phủ nhận những hình thức này đem lại hiệu quả cực kỳ cao cho các hãng, nhưng đối với Apple thì không phải lúc nào ông lớn cũng sử dụng phương thức này. Trên thực tế, hai chiến lược Marketing trong chiến lược của Apple đối với sản phẩm Iphone và các sản phẩm khác là: Vị trí sản phẩm và tiếng vang được tạo ra từ phản ứng tích cực của khách hàng.

Cái hay trong những chiến lược Marketing của Apple chính là dùng chính những trải nghiệm của những người có ảnh hưởng để cho khách hàng thấy sản phẩm của họ hoàn hảo đến mức nào. Không giống như những thương hiệu khác khi sử dụng người nổi tiếng một cách chỉ để quảng cáo. Nhưng với Apple thì khác, cách xây dựng thương hiệu của Apple hướng đến những thứ tự nhiên nhất khi thuyết phục những người ảnh hưởng rằng sản phẩm của họ đem đến trải nghiệm tuyệt vời và những chia sẻ của họ trên mạng xã hội thu hút những người theo dõi, điều này sẽ giúp Apple thu lại được lượng khách hàng tiềm năng lớn từ sự chứng thực của những người nổi tiếng.

 

photo-1531901783755-825e82c0d762

 

Hơn thế nữa, phương tiện truyền thông của Apple – “Word of Mouth” dù là phương thức truyền thống nhưng nó lại được Apple xử lý hết sức thành công. Những trải nghiệm miễn phí cho người dùng cũng được hãng chú tâm đến, vì theo như nghiên cứu từ Nielsen thì niềm tin người tiêu dùng trong Marketing cho thấy:

• 92% người tiêu dùng tin tưởng những lời khuyên từ bạn bè, người thân trong gia đình

• 70% người tiêu dùng tin tưởng từ những người tiêu dùng khác đã sử dụng qua sản phẩm

Những trải nghiệm miễn phí cho người dùng cũng được Apple chú tâm đến

Chính bởi lý do này mà đem đến cho khách hàng trải nghiệm sản phẩm trước khi mua, hãng đã chứng minh rằng sản phẩm của hãng là tốt nhất và đủ để thỏa mãn khách hàng. Những chân lý về “chủ nghĩa hoàn hảo” được Apple đưa vào chiến lược kinh doanh quốc tế của Apple một cách hoàn hảo nhất.

Đơn giản là trên hết

Tại sao lại đơn giản là trên hết? Apple mang tới cho khách hàng những trải nghiệm tuyệt vời, không chỉ những sản phẩm của họ là tuyệt nhất mà chính những thứ xung quanh họ cũng quan tâm đến vấn đề trải nghiệm của khách hàng. Apple giúp người dùng hiểu được họ không thích những thứ phức tạp và luôn hướng tới sự tối giản. Trong Content Marketing của Apple thì hãng đưa những từ ngữ gần gũi với khách hàng, hạn chế tối đa những từ ngữ chuyên ngành công nghệ cao, bởi vì họ hiểu rằng đối tượng khách hàng của Apple nhắm tới là những người “không biết rõ về công nghệ”.

photo-1534802046520-4f27db7f3ae5

 

Một điểm nữa khiến những chiến lược Marketing của Apple khác biệt và gây tiếng vang chính là cách truyền đạt thông tin, thông số kỹ thuật và tính năng. Thay vào đó hãng nhấn mạnh rằng “sản phẩm của họ có thể thay đổi cuộc sống của bạn, và làm nó tốt hơn”. Định vị thương hiệu của Apple còn đi liền với triết lý “Đơn giản là trên hết” thông qua website và blog của họ, họ biết cách dẫn khách hàng vào trang web của họ một cách dễ nhất. Theo nghiên cứu chỉ 79% người dùng web quét những thông tin đầu trang và thông tin họ cần, nhìn thấy điều đó, thay vì làm web “hoa mỹ” thì Apple lại hướng đến sự tối giản đem những thông tin tốt nhất cho khách hàng.

Hoàn hảo trong mọi phương thức bán hàng

Trải nghiệm tại cửa hàng bán lẻ của Apple thực sự là “đỉnh của đỉnh”. Hãng không cần yếu tố PR rầm rộ, không cần những lời phô trường mà chỉ tập chung vào yếu tố thực tế, những gì khách hàng trải nghiệm được là chìa khóa để dẫn họ đến thành công. Theo những nghiên cứu thị trường của Nielsen thì 70% những khách bước ra từ Apple store đều mua một thứ gì đó trong cửa hàng. Chính bởi chiến lược Marketing tự nhiên ưu tiên trải nghiệm người dùng đã khiến Apple không cần tập trung quá vào quảng cáo mà vẫn thu hút về lượng khách hàng đông đảo và lợi nhuận cực kỳ ấn tượng.

photo-1503852460961-aa7ffdd3d64d

 

Bạn có thể lên Youtube và tìm kiếm những video về những nội dung mở hộp những điện thoại Iphone hay các dòng sản phẩm khác như Mac, Ipod, Apple Watch. Apple tập cung ngay từ việc thiết kể vỏ hộp, sản phẩm là một thứ bên trong, những việc tạo ấn tượng ngay từ bên ngoài là điều mà không phải ai cũng nghĩ ra và làm được. Theo nghiên cứu tâm lý của các chuyên gia thì những thứ đẹp và gây ấn tượng với khách hàng sẽ khiến họ muốn chia sẻ hơn với mọi người. Apple đã hiểu được điều đó và tạo nên sự khác biệt cho mình, họ có thể dựa vào điều đó gia tăng được độ phủ, chính những video đó khiến in sâu vào tâm lý của khách hàng rằng Iphone là sản phẩm tốt là sản phẩm đáng để mua.

Đánh vào cảm xúc của khách hàng

Kết nối cảm xúc là chìa khóa cho chiến lược Marketing của Apple, có lẽ những câu chuyện mà Apple đưa đến cho khách hàng là những video có độ viral và lan tỏa cực kỳ cao. Hãy nghĩ lại quảng cáo đầu tiên cho Ipad ra đời vào năm 2010, Apple đã làm bối cảnh những người ở trong phòng khách, họ không nói về kích thước màn hình hay tốc độ mà đơn giản chỉ là họ yêu Ipad của mình.

photo-1532077251662-fbe8184aa794

 

Những nghiên cứu nổi tiếng của tiến sĩ Jonah Berger cho thấy nội dung gợi lên những cảm xúc kích thích cao và có khả năng lan truyền hơn bất cứ hình thức nào. Chính vì vậy Apple đã biến cảm xúc ấy thành “paint point” để đánh vào khách hàng tạo ra những chiến dịch mang đầy cảm xúc, những quảng cáo có tốc độ lan truyền trên social media rất cao. Để gợi lên và xây dựng cảm xúc của khách hàng theo cách của Apple, hãy sử dụng ngôn ngữ cảm xúc của riêng của bạn, nơi nó có ý nghĩa để làm như vậy. Hãy chắc chắn rằng nó chảy tự nhiên. Một cách để làm điều này là sử dụng các từ kích hoạt cảm xúc để phát triển chiến dịch Marketing của bạn.

Không đối đầu về giá cả trên thị trường là chiến lược giá của Iphone nói riêng và của Apple nói chung

Apple hiểu rằng cạnh tranh về giá có thể làm sụp đổ hoàn toàn công việc kinh doanh của bạn và Apple biết rằng giảm giá và cạnh tranh sẽ dẫn tới một cuộc đua vào ngõ cụt. Do đó, chiến lược cạnh tranh của Apple tập trung vào USP của họ (đề xuất giá trị độc nhất) đó chính là thiết kế đẹp mắt mà bạn có thể nhìn thấy ngay từ khi mở hộp.

Apple không để ý tới sự cạnh tranh, trong khi những hàng khác tập trung vào một tính năng thế mạnh duy nhất thì Apple tập trung vào toàn bộ sản phẩm và thực tế đã chứng minh điều đó.

photo-1512429234305-12fe5b0b0f07

 

Chiến lược Marketing của Apple tại mọi thời điểm có thể là đặt giá cao hơn những sản phẩm khác trên thị trường. Nhưng đã nói ở trên, Apple luôn biết cách làm thỏa mãn khách hàng bằng sản phẩm của họ, chính vì thế Apple đã tạo ra cho các Marketer một bài học rằng bạn có thể thực hiện chiến lược này ở bất kể thị trường bạn có kể cả thị trường ngách, và bất cứ quy mô của bạn là gì thì hãy luôn nhớ điều chỉnh giá cao hơn.

Sự ra mắt của Apple Iphone XS: Liệu Apple vẫn theo “chủ nghĩa hoàn hảo” trong Marketing?

Có thể nói, sự kiện ra mắt 3 dòng sản phẩm mới vừa qua của hãng công nghệ “táo khuyết” vẫn gây bão dư luận vẫn đưa ra được những cú hích trên thị trường. Lượng người quan tâm đến sự kiện của Apple vẫn là vô cùng lớn. Ý kiến sau sự kiện cho thấy rằng Apple không thay đổi thiết kế, không có sự đột phá giống như quá khứ mà hãng đã làm.

 

photo-1516163173352-d1c4d006f9ac

 

Thế nhưng hãy nhìn vào thực tại, hãy nhớ về quá khứ khi Apple đã thay đổi định nghĩa “Màn hình cảm ứng” là gì, hay “Touch ID” đã cho thấy bảo mật là thế nào. Với một thị trường bão hòa như hiện nay sự sáng tạo là điều rất khó và đôi khi cố gắng sáng tạo thì sẽ phản tác dụng. Chính vì vậy Apple vẫn giữ nguyên quan điểm trong chiến lược Marketing của Apple về việc nâng cao trải nghiệm của khách hàng là trên hết để cho khách hàng thấy trải nghiệm tốt nhất là như thế nào. Chính bởi chiến lược Marketing không quảng cáo rầm rộ, mà ưu tiên vào sự “hoàn hảo” thì qua đợt ra mắt Iphone XS vừa rồi hãng đã cho thấy những toan tính của mình. Ai bảo hãng đã hết thời thì cứ nhìn số lượng người tìm kiếm thông tin về Iphone XS (772 triệu lượt tìm kiếm), thì có thể thấy chiến lược Marketing của hãng vẫn hoàn hảo như hồi nó xưa.

Kết luận

Apple đã cho cả thế giới thấy “chủ nghĩa hoàn hảo” là như thế nào thông qua những sản phẩm mà hãng tạo ra. Sản phẩm Iphone XS vừa qua đã chứng tỏ cho câu nói “Đẳng cấp là mãi mãi”. Chiến lược Marketing của Apple hướng đến mục tiêu khách hàng là trên hết, và dù không quảng cáo rầm rộ thì hãng những con số về số lượng bán ra và lợi nhuận vẫn ở con số ấn tượng. Apple vẫn là hãng công nghệ hàng đầu trên thế giới bởi chiến lược Marketing khôn ngoan và “chạm” tới khách hàng.

Nguồn: Happy.live

Có thể bạn quan tâm:

>> Bài học kinh doanh từ thất bại của Carrefour – doanh nghiệp bán lẻ hàng đầu tại Pháp

>> Cách CEO Starbucks xử lý khi thương hiệu bị tẩy chay

>> Chặng đường từ món kem làm tại nhà tới thương hiệu trị giá trăm triệu USD của Halo Top


Business Model Canvas – Mô hình quyền lực cho các CMO

Written by

Bài viết này sẽ giới thiệu về Business Model Canvas (BMC), một công cụ xây dựng mô hình kinh doanh được thiết kế bởi tiến sĩ Alexander Osterwalder. BMC đã trở thành một công cụ mạnh mẽ giúp cho cả doanh nghiệp startup lẫn doanh nghiệp lâu năm hình thành những chiến lược thông minh, cụ thể và thành công.

null

Giới thiệu về Business Model Canvas (BMC)

Business model canvas (BMC) là một cách thể hiện thông tin về các nhân tố đầu vào tạo nên chuỗi giá trị của một doanh nghiệp dưới dạng hình ảnh, được sử dụng rộng rộng rãi trong quá trình xây dựng, hoạch định một doanh nghiệp mới. Ngoài ra, thì nó cũng được sử dụng để phân tích tình hình kinh doanh hiện tại của công ty.

Business model canvas (BMC) được phát triển bởi chuyên gia quản trị người Thuỵ Điển Alexander Osterwalder. Ông đã sử dụng 9 nhóm nhân tố chính cấu thành nên Business model canvas, mà ông hàm ý chúng chính là 9 trụ cột tạo nên tổ chức của một công ty, gồm có: Đối tác chính, Hoạt động kinh doanh chính, Nguồn lực chính, Giá trị thặng dư, Quan hệ khách hàng, Kênh thông tin và Phân phối, Phân khúc khách hàng, Cơ cấu chi phí và Dòng doanh thu.

Business Model Canvas (BMC) – Một công cụ trực quan

Hiệu suất kinh doanh của một công ty có thể dễ dàng được cải thiện bằng cách áp dụng Business model canvas. Chỉ qua một cái nhìn, tất cả các khía cạnh liên quan đều được trình bày rõ ràng nhờ các mô phỏng trưc quan. Bằng cách nhìn vào sự phát triển của từng thành tố, một doanh nghiệp có thể tinh chỉnh các giá trị mà mình cung cấp cho khách hàng và cải thiện các chiến lược của mình một cách có tổ chức. Trong khi đó, nếu sử dụng công cụ này để ra một doanh nghiệp mới thì các nhà chủ doanh nghiệp có thể hoạch định ngay từ đầu một loạt các quyết định chiến lược quan trọng thông qua việc sử dụng công cụ đó.

null

1. Đối tác chính

Dù với doanh nghiệp startup hay doanh nghiệp đã thành lập lâu năm thì việc tạo dựng liên minh với các đối tác là điều rất quan trọng. Chẳng hạn như khi các công ty phải liên minh với nhau để chiến đấu với đối thủ cạnh tranh và kết hợp kiến thức và chuyên môn với nhau. Doanh nghiệp có thể thu về các thông tin quan trọng thông qua chính những sự liên minh này, bằng việc xác định ngay từ đầu những đối tác nào sẽ đem lại giá trị và những mối quan hệ đó có giá trị như thế nào.

2. Các hoạt động kinh doanh chính

Bằng việc nhận biết đúng về các hoạt động nòng cốt của công ty, chúng ta sẽ hiểu đúng các giá trị thặng dư mà doanh nghiệp có thể đưa ra thị trường. Điều này không chỉ nói về sản xuất ra những sản phẩm như thế nào, mà nó còn đề cập đến cái cách mà doanh nghiệp tiếp cận với vấn đề giải quyết vấn đề của thị trường, cách kết nối (networking) ra sao, chất lượng của sản phẩm đầu ra hoặc dịch vụ đầu ra của doanh nghiệp là gì. Khi tổ chức xác định được giá trị gia tăng mà mình cung cấp cho khách hàng là gì, họ có thể dễ dàng phát triển mối quan hệ tốt đẹp với các khách hàng hiện tại, do đó, điều này có thể hữu ích trong việc thu hút khách hàng mới. Đây cũng được coi là hành động giúp doanh nghiệp tránh các tổn thất gây ra từ việc phải cạnh tranh với đối thủ dễ dàng hơn.

3. Các nguồn lực chính

Các nguồn lực đầu vào chính là trái tim, nòng cốt của việc sản phẩm đầu ra như thế nào. Các nguồn lực này có thể được phân loại thành: nguồn lực vật chất, trí tuệ, tài chính và nhân lực. Nguồn lực vật chất có thể bao gồm các tài sản như các trang thiết bị phục vụ kinh doanh. Nguồn lực trí tuệ bao gồm từ kiến thức, thương hiệu đến các bằng sáng chế. Các nguồn lực tài chính liên quan đến dòng vốn, nguồn thu nhập và nguồn nhân lực bao gồm các khía cạnh về nhân sự.

4. Giá trị cung cấp cho khách hàng

Xác nhận giá trị nghĩa là lý do cốt lõi để công ty tồn tại, giá trị này chính là nhằm đáp ứng nhu cầu từ phía khách hàng. Doanh nghiệp này khác biệt so với đối thủ cùng ngành như thế nào? Những khác biệt này một mặt tập trung vào những yếu tố có thể định lượng được như giá, dịch vụ, tốc độ và điều kiện giao hàng. Mặt khác, nó cũng tập trung vào những yếu tố có thể định tính bao gồm thiết kế, trạng thái thương hiệu và trải nghiệm cũng như sự hài lòng của khách hàng.

5. Quan hệ khách hàng

Tương tác với khách hàng là điều rất cần thiết. Cơ sở dữ liệu càng rộng thì doanh nghiệp càng cần chú trọng việc phân chia khách hàng thành các nhóm mục tiêu khác nhau. Mỗi nhóm khách hàng có một nhu cầu khác nhau. Bằng cách dự đoán các nhu cầu của khách hàng, doanh nghiệp sẽ đầu tư vào các nhóm khách hàng khác nhau. Một dịch vụ tốt sẽ đảm bảo cho quan hệ khách hàng vừa bền vững mà lại tốt đẹp và có thể duy trì trong tương lai.

6. Các kênh thông tin và phân phối

Một công ty phải giải quyết các vấn đề về truyền thông, phân phối và các kênh bán hàng. Điều này không chỉ là về việc liên lạc với khách hàng và cách thức mà công ty giao tiếp với khách hàng của họ. Các địa điểm mua sắm và phân phối các sản phẩm và dịch vụ cung cấp là yếu tố quyết định. Các kênh đến với khách hàng theo năm giai đoạn khác nhau: nhận thức về sản phẩm, mua hàng, giao hàng, đánh giá và sự hài lòng, cuối cùng là dịch vụ hậu mãi. Để tận dụng tốt các kênh và tiếp cận nhiều khách hàng nhất có thể, các kênh của doanh nghiệp nên được kết hợp giữa các kênh offline (cửa hàng) và trực tuyến (web bán hàng).

7. Phân khúc khách hàng

Vì một tổ chức phải phục vụ nhiều nhóm khách hàng vậy nên các doanh nghiệp nên chia họ thành các phân khúc khác nhau. Bằng cách xác định các nhu cầu và yêu cầu cụ thể của từng nhóm khách hàng và giá trị mà họ gắn kết, mà các sản phẩm và dịch vụ có thể được “may đo cắt thửa” để phục vụ tốt hơn cho các nhu cầu này. Điều này sẽ khiến khách hàng hài lòng hơn, từ đó quay lại củng cố giá trị thặng dư cho khách hàng.

8. Cơ cấu chi phí

Khi có một cái nhìn sâu sắc vào cơ cấu chi phí, doanh nghiệp sẽ biết doanh thu tối thiểu phải có để tạo ra lợi nhuận là bao nhiều. Cơ cấu chi phí xét đến khả năng mở rộng quy mô, định phí (constant cost) và biến phí (variable cost) cũng như các lợi thế về lợi nhuận. Nếu thông qua cơ cấu chi phí, doanh nghiệp thấy rằng mình đang đầu tư nhiều hơn so với mức doanh thu mà nó đang tự tạo ra, thì nghiễm nhiên là chủ doanh nghiệp sẽ nhìn thấy là họ cần phải thay đổi về kết cấu của chi phí. Thường thì nếu chuyện này xảy ra thì công ty sẽ quay lại yếu tố nguồn lực để cơ cấu lại và giảm thiểu một loạt các yếu tố trong đó nhằm điều chỉnh lại dòng thu và dòng chi.

9. Dòng doanh thu

Ngoài cơ cấu chi phí, dòng doanh thu sẽ đem lại một cái nhìn rõ ràng vào các mô hình doanh thu của doanh nghiệp. Ví dụ, công ty cần có bao nhiêu khách hàng trên cơ sở hàng năm để tạo ra lợi nhuận? Doanh nghiệp cần doanh thu bao nhiêu để hoà vốn? Dòng doanh thu là công cụ điều chỉnh chi phí. Ngoài doanh thu từ việc bán hàng hoá, lệ phí đăng ký, thu nhập cho thuê, cấp giấy phép, tài trợ và quảng cáo cũng có thể là một nguồn thu.

Nguồn: Saga

Có thể bạn quan tâm: 

>> Chiến lược Marketing giúp Apple chưa bao giờ hết hot – Vị thế bá chủ “thung lũng Silicon”

>> 6 tố chất cần có của một CMO hiện đại

>> ABM – Phương pháp marketing tập trung vào doanh số


Điện máy xanh và TVC gây ám ảnh với câu hát “nổi da gà”

Written by

“Bạn đưa ra một bài hát thu tiếng của bạn. Và khi bạn thuyết trình, bạn bật lên, Trang và bạn Marketing Director của ĐMX nghe xong một cái là nổi da gà luôn. Nghĩ cái này chắc OK. Mình nghe mình nổi da gà , hy vọng khách hàng nghe cũng nổi da gà giống mình”.

Từ truyền thống “marketing tiết kiệm” của tập đoàn TGDĐ

Vai trò marketing trong cả 3 chuỗi bán lẻ thuộc tập đoàn Thế Giới Di Động: Thế Giới Di Động (TGDĐ), Điện Máy Xanh (ĐMX) và Bách Hóa Xanh vốn rất nhỏ bé.

Cụ thể, trong những ngày đầu mở rộng liên tục của chuỗi TGDĐ, nhiệm vụ của phòng marketing lúc ấy chỉ là “truyền thông khai trương shop mới”. Hơn nữa là một nhà bán lẻ, các hoạt động marketing của chuỗi bán điện thoại này ngay cả hiện giờ, đều tập trung nhiều vào marketing cho hãng có hàng hóa hiện diện trong cửa hàng.

Tại sự kiện “Marketing giỏi phải kiếm được tiền” do Viện Tiếp thị & Kinh doanh Ứng dụng – Sage Academy tổ chức tuần qua, bà Lê Thảo Trang – Giám đốc Marketing TGDĐ còn tiết lộ, trong tập đoàn có 2 khối được “cưng chiều” nhất là khối mua hàng và bán hàng, còn các phòng ban khác – trong đó có phòng marketing – chỉ như “ô sin” hỗ trợ, vì thế nên ngân sách rất tiết kiệm.

Marketing cho chuỗi Điện Máy Xanh cũng không nằm ngoài tôn chỉ “thắt lưng buộc bụng” đó với các hoạt động đơn giản. Ban đầu tăng tốc mở chuỗi, phòng marketing chỉ hỗ trợ cho việc “mở rộng, mở rộng thật nhiều”, theo lời chị Trang, sau đó thì quảng bá cho các hãng điện máy.

Nhưng khác với chuỗi đầu tiên của tập đoàn là TGDĐ, vốn đã có thương hiệu đủ lớn trong đầu khách hàng và “không phải bỏ tiền làm thương hiệu thêm”, với Điện Máy Xanh, vào năm 2016 lúc chuỗi này đã đạt đến một độ phủ nhất định (khắp 63 tỉnh thành), ông Nguyễn Đức Tài – Chủ tịch HĐQT – liền nghĩ đến việc “bung mạnh” thương hiệu.

Bà Trang kể, vào năm này, team marketing đứng trước yêu cầu của Ban Giám Đốc: Điện máy Xanh cần một sự khẳng định mình với những thương hiệu khác đã có tiếng trên thị trường.

Bà nhớ lại: “Thời điểm đó anh Tài mới kêu vào, nói là anh đồng ý chi tiền, nhưng anh muốn 100% thị trường ai cũng biết đến Điện Máy Xanh”.

Tức brand awareness (độ nhận diện thương hiệu) đạt 100%, tức là 100% đối tượng mục tiêu biết đến ĐMX sau chiến dịch. Đó là một chỉ tiêu oái ăm đối với team marketing trước giờ chỉ chuyên đi… khai trương shop và quảng bá cho hàng hóa của hãng.

“Nghe đến 100% brand awareness mình thấy ‘xỉu’ luôn, nghĩ giờ làm cái gì giờ, lâu nay làm marketing bán lẻ, không làm brand nữa, giờ quay lại nói thật không biết làm cái gì hết”, Giám đốc Marketing TGDĐ kể lại.

“Triệu hồi” nhiều agency danh tiếng nhưng rồi bị chinh phục bởi câu hát “nổi da gà” của 1 freelancer

Sau quyết định của ông Tài, bà Trang liên hệ với rất nhiều agency (công ty quảng cáo truyền thông).

“Gọi bên này bên kia. Rất nhiều công ty lớn đồng ý ngồi xuống, nhưng mà ngồi xuống cái là bảo, phải đưa đây tiền mới làm nha. Cái mình nghĩ: Chết rồi, chắc anh Tài hổng chịu”, bà Trang hài hước kể lại.

Băn khoăn là vậy nhưng phòng marketing cũng chịu nghe các agency đó tư vấn bài bản. “Họ phân tích rất kỹ, họ nói về chiến lược rất hay luôn. Nhưng mà tụi mình cũng chưa cảm thấy ‘đã’ nữa”, bà nói.

Lúc đó, được một bên quen thân giới thiệu, Trang móc nối với 1 freelancer tên Châu Chấn Quyền – người lúc ấy vừa rời agency và bước vào con đường freelance hoàn toàn. Quyền liền tham gia đấu thầu ý tưởng cho dự án này.

“Bạn đấy cũng vất vả”, bà Trang kể lại, “Bạn làm một vài ý tưởng, thuyết trình qua lại 2 – 3 lần luôn. Thuyết trình với sếp mà sếp không chịu”.

Đồng thời lúc đó, team marketing cũng quyết định là chiến dịch sẽ không nói nhiều về giá trị mà chuỗi mang lại cho khách hàng. “Mình chỉ nói đơn giản là ĐMX bán cái gì. Chỉ cần nhớ là ĐMX bán A B C D, không cố gắng nói có giá trị – giá rẻ hay phục vụ tốt – gì cả”, bà Lê Thảo Trang kể.

Châu Chấn Quyền là người hiểu được điều đó. Sau này anh có chia sẻ trên Facebook về yêu cầu cực đơn giản lúc ấy của team marketing của Điện Máy Xanh: “Tăng nhận diện thương hiệu, và chỉ tăng nhận diện thương hiệu. Mục tiêu duy nhất của họ là cho người dùng biết ‘Điện Máy Xanh bán đồ điện máy’. Đó là một cái brief (tạm dịch: đề bài) cực kì chịu chơi. Vì đó giờ làm quảng cáo chỉ gặp khách hàng muốn ‘nhét’ thêm thông tin lợi ích sản phẩm vào thôi”.

Thế là những câu hát: “Bạn muốn mua ti vi, đến Điện Máy Xanh. Bạn muốn mua tủ lạnh, đến Điện Máy Xanh. Bạn muốn mua máy giặt, đến Điện Máy xanh. Máy lạnh máy giặt, đến Điện Máy Xanh” ra đời.  4 món hàng được nhắc đến trong câu hát là cụ thể hóa của từ “điện máy”, nhằm giúp từ “điện máy” bớt mơ hồ chung chung trong tâm trí người tiêu dùng.

Không dừng lại ở đó, người freelancer này còn có cách thuyết trình rất độc đáo: “Bạn đưa ra một bài hát thu tiếng của bạn. Và khi bạn thuyết trình, bạn bật lên, Trang và bạn Marketing Director của Điện máy Xanh nghe xong một cái là nổi da gà luôn.

Nghĩ cái này chắc OK á. Mình nghe mình nổi da gà, hy vọng khách hàng nghe cũng nổi da gà giống mình”, bà Trang chia sẻ.

Sau đó, Lê Thảo Trang đem ý tưởng đấy, kèm theo chừng 7 – 8 thuyết trình của các agency lớn khác để xin ý kiến ở đại hội đồng cổ đông của tập đoàn. Ý tưởng của Châu Chấn Quyền có tỷ lệ bầu chọn áp đảo.

“Khi mà bật cái này lên, tự nhiên mấy idea kia không có bài hát, bật cái này lên cái: ‘Bạn muốn mua ti vi, đến Điện máy Xanh’. Cả khán phòng đó mọi người lắng nghe xong, mình cảm giác ai cũng nổi da gà luôn. Xong mình ngừng hỏi, mọi người chọn cái nào, thế là mọi người chọn cái này, giơ tay hết luôn. Rồi quyết định làm ý tưởng này thôi”, bà Trang kể.

Đoạn video quảng cáo branding đầu tiên và thành công nhất trong lịch sử của Điện máy Xanh đã ra đời như vậy. Từ tháng 11/2016, TVC được phát sóng với tần xuất dày đặc trên truyền hình. Trong đoạn video, diễn viên mặc đồ bó sát từ đầu đến chân “xanh lè xanh lét” với môi vàng – màu branding của TGDĐ, cùng các mô hình TV, tủ lạnh, máy lạnh, máy giặt nhảy múa trên khung nền xanh. Cụm từ “Đến Điện Máy Xanh” được lặp đi lặp lại đến 5 lần trong 30s rất bắt tai nhưng cũng vô cùng… ám ảnh.

TVC này đạt đến độ viral đáng nể và lọt top 2 trong số 10 video quảng cáo xem nhiều nhất châu Á tháng 11 năm đó. 1 tháng rưỡi sau khi TVC này ra ra mắt, Điện Máy Xanh đã vượt xa các đối thủ lớn như Nguyễn Kim, Trần Anh… trở thành thương hiệu siêu thị điện máy có thị phần thảo luận cao nhất trên social media, theo Buzzmetrics.

Sau này nói về sự thành công của sản phẩm này, cả Châu Chấn Quyền và team marketing của TGDĐ đều nhắc đến sự hợp tác ăn ý của cả hai bên. Sau TVC ám ảnh trên, TGDĐ tiếp tục hợp tác với Châu Chấn Quyền trong những sản phẩm truyền thông sau.

Nhưng tất nhiên, “tiết kiệm” vẫn là tôn chỉ của phòng marketing của tập đoàn này. Lê Thảo Trang cho biết hiện giờ phòng marketing của mình vẫn “cái gì cũng tự làm hết, từ thiết kế, PR, digital”… Thuê agency thì đa phần chỉ khi chuỗi này làm TVC hoặc sản xuất banner chuyển xuống các cửa hàng, còn lại thì hiếm lắm mới thuê ngoài.

“Marketing giỏi phải kiếm được tiền” là series đầu tiên nằm trong chuỗi chương trình mang tên “Business Talk Forum”. Sự kiện được tổ chức bởi Viện Tiếp thị & Kinh doanh Ứng dụng – Sage Academy, mang đến những kinh nghiệm từ các CEO, Founder và Giám đốc marketing trong việc tối ưu hóa hoạt động marketing, đồng thời “định nghĩa” lại giá trị cốt lõi của marketing chính là chi tiền để kiếm được nhiều tiền hơn.

Sau tọa đàm diễn ra sáng 3/11 tại TPHCM, sự kiện sẽ được tổ chức tại Hà Nội vào ngày 11/11 tới đây. CafeBiz là đơn vị truyền thông chính thức cho sự kiện này.

Nguồn: Cafebiz

Có thể bạn quan tâm:

Highlands Coffee – Chiến lược bình dân hóa của chuỗi cà phê “bá chủ”

WinRar lãi hay lỗ từ việc cho khách hàng dùng thử mãi mãi?

Nhìn lại chiến dịch marketing “Share a coke” thành công của Coca-cola


Sự ra đời của Bảo tàng kem: Tương lai của ngành bán lẻ

Written by

Dù bạn thích hay không, những bảo tàng mang tính tương tác cũng đang mang lại lợi nhuận vô cùng ấn tượng, như bảo tàng độc đáo này – một điểm đến đang thu hút khách hàng ở San Francisco, Mỹ.

Sự xuất hiện của Bảo tàng Kem ở San Francisco là một minh chứng cho trào lưu kinh doanh kết hợp mua sắm với giải trí. Không giống tên gọi “bảo tàng”, đây được xem như một điểm giải trí không giới hạn tuổi tác, khách tham quan có thể cưỡi lên một chiếc bánh sandwich kem, bơi trong bể kẹo hạt hoặc chơi bập bênh trên những muỗng kem khổng lồ. Dù chưa từng đặt chân vào, qua các kênh thông tin và mạng xã hội, người ta vẫn có thể biết khá tường tận bài trí bên trong bảo tàng và quan trọng hơn: vé vào Bảo tàng Kem luôn mau chóng bán hết sạch. Thành công này chính là nhờ sự lan tỏa của những ngôi sao nổi tiếng như David Beckham hay Beyoncé từng đến đây chụp ảnh và chia sẻ lên Instagram, cuốn theo hàng ngàn người khác cũng đến đây chỉ với mong muốn chụp ảnh và chia sẻ lên một trong những mạng xã hội lớn nhất hành tinh.

Trong số hàng loạt bảo tàng dạng này đang liên tục xuất hiện, có thể kể đến Rosé Mansion, mở cửa ngày 12-7-2018 tại New York để “tôn vinh” những thức uống màu hồng, với kiểu sắp đặt các phòng tắm đầy cánh hoa hồng và trang trí nội thất mô phỏng bọt bong bóng trong các chai sâm-banh. Hay như Bảo tàng Candytopia cũng tại New York đã tái hiện một cánh đồng kẹo như trong cổ tích, với những viên kẹo xốp Marshmallow kết hợp các loại kẹo có thể ăn được cho người tham quan thưởng thức.

Phần lớn những cuộc tranh luận nổ ra quanh những bảo tàng này chủ yếu là do cách đặt tên. Người ta đặt ra câu hỏi liệu đây có phải là tổ chức có giá trị văn hóa hay không? Hay như Jason Farago, biên tập viên của tạp chí nghệ thuật đương đại Even đã gọi Bảo tàng Kem là “ngôi nhà vui vẻ được tối ưu hóa bởi Instagram”. Trong khi đó, Manish Vora, đồng sáng lập của Bảo tàng Kem phản đối ý kiến trên, cho rằng đây chính là một hình thức bán lẻ mới và sẽ nối gót các doanh nghiệp như Warby Parker(*). Tạp chí Harvard Business Review đã đặt ra thuật ngữ “kinh tế trải nghiệm” vào cuối những năm 1990 nhưng khái niệm này chỉ mới được chấp nhận gần đây. “Cả những công ty mới xuất hiện và công ty lâu đời đều đang gia tăng tính trải nghiệm vào các hoạt động kinh doanh của họ”, Warren Teichner, một đối tác cao cấp của McKinsey & Co. cho biết. James Cook, Giám đốc nghiên cứu bán lẻ tại Công ty quản lý đầu tư JLL còn nhìn thấy cả tiềm năng lâu dài: “Giải trí sẽ là mỏ neo mới cho các doanh nghiệp. Nó sẽ giúp cho khách hàng kéo tới các trung tâm mua sắm nhiều hơn trong tương lai”.

Công thức trên đã mang lại sự thành công thần kỳ cho Bảo tàng Kem kể từ khi nó xuất hiện lần đầu vào năm 2016 tại hạt Meatpacking của khu Manhattan, New York. Tính đến nay, Bảo tàng Kem thu hút hơn 1 triệu du khách tham quan ở tất cả các chi nhánh với vé vào cửa 38 USD, đồng thời nó còn nhận được sự tài trợ của Dove Chocolate, American Express Co. và một số nhãn hàng khác.

Rosé Mansion thu hút 500-700 khách mỗi ngày với giá vé 45 USD; tại đây còn có câu lạc bộ rượu vang hoa hồng với chương trình ưu đãi được tính toán kỹ. Dream Machine, ra mắt ở Brooklyn, cho đến ngày 9-9 đã bán được 2 triệu vé kể từ khi mở cửa vào tháng 4-2018. Một chiếc vé xem phim với giá 28 USD sẽ đưa người xem vào một giấc mơ siêu thực, khiến họ cảm thấy như thể đang ở dưới đáy của một hồ bơi khổng lồ. Các mô hình kinh doanh kiểu này đang ngày càng nở rộ. Gần đây nhất, một bảo tàng pizza được thành lập vào tháng 10-2018. Theo Manish Vora, sự xuất hiện ngày càng nhiều đối thủ cạnh tranh với Bảo tàng Kem cho thấy tiềm năng to lớn của mô hình kinh doanh này. Ông dự định sẽ thiết lập các điểm đến mới vào năm 2019 tại New York và Los Angeles cùng một điểm đến có tầm quốc tế ở châu Á. Ông cũng lên kế hoạch cho các dự án tiếp theo, có thể hoặc không theo chủ đề là món kem: “Chúng tôi đam mê kem nhưng nó sẽ chỉ là một đoạn phim nhượng quyền trong tương lai của đế chế giải trí Disney”.

Chú thích:

(*) Warby Parker là một thương hiệu Mỹ chuyên bán các sản phẩm kính mắt theo đơn và kính râm thời trang cả online lẫn offline. Khởi đầu từ mô hình thương mại điện tử, Warby Parker đã mau chóng mở các cửa hàng offline trên khắp nước Mỹ. Warby Parker đã làm thay đổi ngành công nghiệp kính mắt khi loại bỏ các trung gian bán lẻ, đưa ra giá cả cạnh tranh, sản phẩm chất lượng tốt và bắt kịp xu hướng thời trang, thu hút người tiêu dùng

Nguồn: Brandsvietnam

Có thể bạn quan tâm:

> 4 cách thức giúp thương hiệu luôn được làm mới

> Marketing chuyển biến trong “thời đại khám phá”

> Chiến lược mở rộng cấu trúc thương hiệu