Blog Archive - Page 11 of 25 - SAGE - Applied Marketing Academy

Highlands Coffee – Chiến lược bình dân hóa của chuỗi cà phê “bá chủ”

Written by

5 năm sau sự góp mặt của Jollibee, chuỗi cà phê Highlands đã “lột xác” mạnh mẽ với quy mô lên tới 230 điểm bán. Định vị gắn với liên tưởng thương hiệu (brand association) cao cấp dành cho doanh nhân, trí thức trước đây của Highlands Coffee đã được “bình dân hóa”, nhằm phục vụ nhiều đối tượng khách hàng hơn.

Trong khi một loạt chuỗi cà phê đình đám một thời như The KAfe, Saigon Café, Urban Station, Gloria Jean’s… đã phải đóng cửa hoặc thu hẹp hoạt động, thì Highlands Coffee lại đang làm ăn rất tốt.

Xuất hiện ở hầu khắp các tòa nhà lớn và trung tâm thương mại ở Hà Nội và Sài Gòn, án ngữ ở những vị trí ngoài trời thuộc hàng độc đắc, Highlands có lẽ là chuỗi cửa hàng cà phê thành công nhất ở Việt Nam, tính đến thời điểm hiện tại.

Với những người thường xuyên ghé uống cà phê ở chuỗi Highlands, việc đến quán và phải chật vật mới tìm được chỗ đã trở nên không mấy xa lạ, đặc biệt là buổi tối và cuối tuần.

Phương Lâm, sinh viên một trường đầu bếp, cho biết anh rất thích đến Highlands coffee một mình và thường chọn cửa hàng ở Hai Bà Trưng (TPHCM). Anh thường ngồi tại góc có thể quan sát được cả đường Hai Bà Trưng và Võ Thị Sáu. “Tôi thích chỗ này, vị trí ngồi này vì được ngắm dòng người qua lại. Đây là cách tôi chọn để thư giãn”, Lâm nói.

Anh Lâm cho biết khi đến Highlands, anh thường chọn trà xanh. Theo anh, loại này giá chấp nhận được. Nếu so sánh trà đào thì ở Phúc Long ngon hơn. Tuy nhiên, Lâm vẫn chọn Highlands vì không gian thoải mái hơn, tiện nghi hơn và không phải xếp hàng đợi như ở Phúc Long.

Anh Long không phải trường hợp cá biệt. Là một trong những thương hiệu chuỗi cửa hàng cà phê đầu tiên có mặt tại Việt Nam, Highlands Coffee hiện tại là chuỗi cà phê có số lượng cửa hàng lớn nhất.

Highlands Coffee thuộc quyền sở hữu của Công ty Việt Thái Quốc tế do ông chủ David Thái, một Việt kiều thành lập năm 2002. Tuy nhiên, cách đây 5 năm, thương hiệu này đã được chuyển giao cho một DN ngoại là Jollibee của Philippines.

Tập đoàn này đã chi ra 25 triệu USD để mua lại 49% bộ phận kinh doanh Việt Nam và 60% bộ phận kinh doanh tại Hong Kong (Trung Quốc) của tập đoàn Việt Thái Quốc tế do doanh nhân David Thái sở hữu.

Bên cạnh đó, Jollibee đã cho công ty của David Thái vay thêm 35 triệu USD với lãi suất 5%. Theo lời chia sẻ với báo giới của đại diện Jollibee, khoản tiền này Việt Thái sẽ đầu tư cho tương lai.

Hiện tại Jollibee đã nâng sở hữu cổ phần lên 60% trong công ty liên doanh SuperFoods Group được thành lập sau thương vụ với David Thai.

Kể từ sau khi về tay Jolibee, chuỗi cà phê Highlands đã trải qua những bước mở rộng mạnh mẽ, đặc biệt là trong những năm gần đây. Nếu năm 2014, Highlands mới chỉ có 60 cửa hàng thì đến nay con số này đã lên đến 230.

Tốc độ mở rộng ấn tượng này của Highlands bỏ xa các đối thủ khác trong ngành

Kể cả thương hiệu thống trị toàn cầu như Starbucks cũng không thể theo kịp. Starbucks, sau hơn 3 năm có mặt tại Việt Nam, “nàng tiên cá” mới mở được 27 cửa hàng, chủ yếu tập trung tại Sài Gòn. Trong khi đó, tại Hà Nội, Starbucks mới chỉ có 7 điểm bán ở những vị trí nhỏ hơn so với Highlands rất nhiều.

Đi cùng sự mở rộng về quy mô là tốc độ tăng trưởng cao về doanh thu. Năm 2017, CTCP Dịch vụ Cà phê Cao Nguyên – chủ sở hữu của chuỗi cà phê Highlands Coffees ghi nhận doanh thu 1.237 tỷ đồng, tăng 47% so với năm trước đó. Doanh thu của Highlans gấp 4 lần so với Phúc Long, 8 lần The Coffee House và khoảng 3 lần so với chuỗi cà phê đình đám Starbucks.

Anh Patrick, một người Mỹ đã ở Việt Nam 12 năm và có vợ người Việt cho biết, anh đến Highlands khá thường xuyên, một lần mỗi tuần. Từng uống nhiều loại cafe ở Sài Gòn, gồm cả các thương hiệu lớn và cả cafe vỉa hè, Patrick cho rằng, cà phê Highlands không quá ngon, nhưng nó “ổn” nếu so sánh mức giá với chất lượng đồ uống và dịch vụ. Điểm duy nhất anh không ưng ý, đó là Highlands có khá nhiều người hút thuốc lá.

“Ngoài ra, trước đây, Highlands còn phục vụ nhiều món Tây nhưng giờ không còn nữa. Có thể thương hiệu thay đổi khẩu vị cho khách”, Patrick nói.

Trên thực tế, việc thay đổi thực đơn của Highlands không hẳn chỉ để đổi khẩu vị, mà là sự thay đổi trong định vị thương hiệu.

Sau khi có sự góp mặt của Jollibee, chuỗi cà phê Highlands đã có sự thay đổi mạnh mẽ. Định vị gắn với liên tưởng thương hiệu (brand association) cao cấp dành cho doanh nhân, trí thức trước đây của Highlands Coffee đã được “bình dân hóa”, nhằm phục vụ nhiều đối tượng khách hàng hơn.

Các khách hàng của Highlands cũng chứng kiến sự thay đổi của chuỗi này về hình thức phục vụ, từ “được phục vụ” thành “tự phục vụ”. Nếu ở quy mô nhỏ thì không thấy rõ, nhưng thay đổi này giúp cho chi phí vận hành của cả chuỗi với hơn 200 cửa hàng giảm đáng kể.

Ngoài ra, thiết kế quán cũng được thay đổi theo hướng đơn giản là một cách hay để tối ưu hóa chi phí. Bàn ghế xịn bọc da trước đây được thay bằng bàn ghế gỗ bình thường, khoảng cách giữa các bàn cũng sát nhau hơn giúp tăng diện tích phục vụ được nhiều khách hàng hơn hẳn. Thêm vào đó, việc cắt giảm menu khiến việc quản lý thực đơn dễ dàng mà số lượng nhân viên cũng không cần quá nhiều.

Vì vậy, khi bước chân vào cửa hàng Highlands, khách sẽ không mất quá nhiều thời gian lựa chọn. Thông thường, khách hàng cũng chỉ chọn một loại đồ uống và gọi thêm một chai nước suối. Highlands giống như một phiên bản nâng cấp của “cà phê bệt” ở Sài Gòn hay Hà Nội.

Để đồng nhất với mô hình mới, giá bán của các món đồ uống cũng có một số điều chỉnh. Các loại đồ uống có giá thấp hơn so với các món tương đồng ở các chuỗi lớn như Cộng Cà phê, Gloria Jeans Coffee, Coffee Bean & Tea Leaf hay sau này là Starbucks… Các món ăn Tây mà anh Patrick yêu thích trước đây, cũng được thay đổi bằng món bánh mì Việt Nam truyền thống.

Ngoài những thay đổi kể trên, một điểm cộng mà Highlands vẫn duy trì được đó là “Vị trí đắc địa”. Đa số các quán đều nằm ở góc phố lớn (Cột Cờ Hà Nội, Nhà hát Lớn, Dinh Độc lập…) , hoặc tại các trung tâm thương mại sầm uất nhất (Vincom Bà Triệu, Bitexco, Saigon Center Takashimaya…), thuận tiện cho cả dân văn phòng tụ tập, dân làm ăn gặp gỡ, lẫn khách du lịch vãng lai.

“Sự thay đổi này nhằm đưa Highlands trở thành nơi lý tưởng để thư giãn và cho khách hàng hiện đại với mức giá hợp lý. Cửa hàng được thiết kế nhằm truyền tải các giá trị truyền thống văn hóa Việt Nam: đó là tính cộng đồng gắn kết và sự thân thiện”, ông David Thái, Tổng giám đốc Công ty VTI giải thích.

Sự thay đổi về chiến lược định vị của Highlands có vẻ đã phát huy tác dụng.

Kể từ khi khai trương 2 cửa hàng đầu tiên vào năm 2002, sau 16 năm, chuỗi này đã tăng lên con số 230. Nhiều nhất là ở TPHCM với 93 cửa hàng. Diện tích các quán cũng rất đa dạng, có nơi quy mô lớn, có nơi quy mô nhỏ, nhưng tựu chung lại, rất dễ dàng để khách hàng có thể tìm thấy một cửa hàng Highlands.

Riêng quận 1, chuỗi Highlands có 20 cái, gần bằng 1/3 số cửa hàng Highlands ở Hà Nội và gàn bằng tổng số cửa hàng Starbucks hiện có ở Việt Nam. Với 230 cửa hàng, Highlands đang cho nhiều đối thủ ngoại “hít khói”, như Starbucks (mới chỉ có 27 cửa hàng), Coffee Bean & Tea Leaf (có 15)…

Không phải số 1 về chất lượng, nhưng Highlands coffee lại đang là thương hiệu thành công điển hình nhất của mô hình kinh doanh chuỗi.

Một cuộc khảo sát của Financial Times cho thấy, Highlands coffee là thương hiệu được người tiêu dùng nhắc tới nhiều thứ hai, chỉ sau Trung Nguyên. Mặc dù vậy, thực tế Trung Nguyên giành vị trí cao nhất trong mô hình kinh doanh quán/chuỗi cà phê xét về quy mô nhờ chiến lược phủ 10.000 quán trên toàn Việt Nam khi chỉ cần có bán cà phê và treo bảng hiệu Trung Nguyên. Nếu xét riêng về mô hình chuỗi cửa hàng cà phê, Trung Nguyên không phải đối thủ của Highlands.

Nguyễn Hải Ninh, nhà sáng lập The Coffee House, một chuỗi cửa hàng cà phê cũng đang phát triển rất mạnh cho rằng, thực tế chất lượng đồ uống chỉ là một trong những yếu tố lôi kéo khách hàng về cho thương hiệu, và đó cũng không phải là yếu tố quan trọng nhất.

“Hầu hết mọi người tìm đến quán cà phê để tìm kiếm không gian, để gặp gỡ nhau hoặc làm việc. Vì vậy, nhiệm vụ của chuỗi cà phê là phải đáp ứng được nhu cầu đó”, Ninh nhận định.

Với 230 cửa hàng, Highlands đang làm điều này khá tốt.

Andrew Schnauer, một vị khách đến từ New Zealand, cho biết ông đang đi du lịch ở Việt Nam và đã đến TP HCM được 2 ngày.

“Bạn bè tôi ở Việt Nam bảo tôi rằng hãy đến Highlands Coffee. Ở đó đồ uống ngon, có wifi, máy lạnh”, ông vừa nói, vừa nhâm nhi ly cafe vừa chờ vợ đang mua sắm ở Saigon Square.

“Vị cafe ở đây còn mạnh hơn cả ở New Zealand trong khi giá bằng một nửa. Nếu lần sau uống cafe, tôi sẽ lại tới Highlands”, người đàn ông New Zealand nói.

Nguồn: Cafebiz

Có thể bạn quan tâm:

> Nội dung quảng cáo trên LinkedIn hiện có thể được theo dõi qua Trình quản lý chiến dịch của Google

> Marketing chuyển biến trong “thời đại khám phá”

> Google Ads và Facebook Ads, đâu là kẻ thắng người thua?


Nội dung quảng cáo trên LinkedIn hiện có thể được theo dõi qua Trình quản lý chiến dịch của Google

Written by

 

Việc tích hợp Trình quản lý chiến dịch Google sẽ hỗ trợ Nội dung chạy quảng cáo của LinkedIn cho những video, chuỗi quảng cáo, những nội dung dẫn đầu xu hướng và hơn thế nữa.

LinkedIn cũng công bố hôm thứ Hai rằng việc thêm Nội dung được quảng cáo vào các đơn vị quảng cáo có sẵn có thể được theo dõi bởi trình quản lý Chiến dịch của Google.

Tại sao các marketer nên quan tâm?

Đầu năm nay, LinkedIn đã giới thiệu Trình quản lý tích hợp chiến dịch Google cho một vài định dạng quảng cáo. Vào 29/10, công ty đã thêm Nội dung chạy quảng cáo vào danh sách các dịch vụ quảng cáo có sẵn được gộp vào Nền tảng tiếp thị của Google. Điều này giúp theo dõi nội dung được tài trợ dưới dạng video, chuỗi quảng cáo, những nội dung dẫn đầu xu hướng, bài đăng và những tiêu điểm, xu hướng

Việc đo lường được tích hợp với với Trình quản lý chiến dịch của Google “không chỉ cho phép bạn xem hiệu suất quảng cáo tự nhiên LinkedIn và phần chạy quảng cáo của bạn mà còn nhận được sự phân bổ quảng cáo LinkedIn của bạn trên tất cả các lần hiển thị và tương tác.” – Taylor Greason đã viết trên blog LinkedIn doanh nghiệp.

Để khởi động tính năng theo dõi nội dung quảng cáo trên LinkedIn trong Trình quản lý Chiến dịch Google, nhà tiếp thị sẽ cần nhấp vào tùy chọn “Quản lý theo dõi” khi tạo chiến dịch Nội dung được Tài trợ và thêm cả số lần hiển thị và nhấp chuột trước khi nhấn vào nút “Lưu” trên chiến dịch của họ.

Ian Chang, một giám sát viên của Zenith Mỹ, cho biết cơ quan của anh đã giảm đáng kể chi phí mỗi lượt truy cập (CPV) sau khi bắt đầu thêm thẻ hiển thị vào các đơn vị Nội dung được tài trợ trên LinkedIn.

“CPV giảm 100% tổng thể so với trước khi triển khai”, Chang cho biết: “Khả năng thêm thẻ hiển thị cho mỗi đơn vị quảng cáo đã giúp chúng tôi đạt được hiệu quả đáng kể trên nền tảng.”

Thông tin thêm về tích hợp Trình quản lý chiến dịch Google của LinkedIn

  • LinkedIn khuyên các nhà quảng cáo nên sử dụng thẻ nhấp chuột trên Nội dung chạy quảng cáo hơn là URL đích hoặc URL trang đích để theo dõi chính xác hơn và tiếp tục sử dụng Thẻ thông tin chi tiết LinkedIn để tối ưu hóa chi tiêu quảng cáo trên nền tảng của nó.
  • LinkedIn cho biết họ đang làm việc để thêm nhiều số liệu hơn vào Trình quản lý chiến dịch Google, nhưng không cung cấp bất kỳ chi tiết cụ thể nào.
  • Trong các tin tức khác trên LinkedIn, Vimeo đã thông báo vào 29/10 rằng các nhà tiếp thị có thể xuất bản video lên LinkedIn Company Pages trực tiếp từ tài khoản Vimeo của họ.

Nguồn: Marketingland

Có thể bạn quan tâm: 

>> Đừng vội tin vào 9 điều sau khi làm Digital Marketing

>> Đừng mải chạy theo Digital mà quên mất các kênh Offline

>> Khẩu vị người Việt: Trà hay Cà phê?

3 chiến thuật tác động hiệu quả vào tâm lý khách hàng

Written by

Dù khách hàng luôn lựa chọn những sản phẩm và dịch vụ đáng tin cậy, họ luôn canh cánh nỗi lo bị dắt mũi giữa hằng hà sa số những cái tên được quảng cáo liên tục trên thị trường.

Bài viết dưới đây sẽ khám phá 3 cách giúp các nhà tiếp thị đọc tâm lí khách hàng cả hiện hữu lẫn tiềm năng, qua đó tạo lòng tin với sản phẩm và dịch vụ được đề xuất.

Bất kể làm việc với đối tác hay với khách hàng, những nhà tiếp thị tài ba thường kiêm luôn vai của nhà tâm lí học – họ hiểu được xu hướng và thái độ của khách hàng để có động thái quảng bá phù hợp nhất và nhanh chóng được khách hàng tín nhiệm. Để làm được điều đó, họ có những chiến thuật tưởng chừng “xưa như Trái đất” nhưng cực kì hiệu quả, gồm:

Hiệu ứng “Mưa dầm thấm lâu”

Mọi người có tâm lí thích hoặc lựa chọn sản phẩm đơn giản vì họ đã quen thuộc. Mức độ ưa thích và tin tưởng tỉ lệ thuận với số lần tiếp xúc.

Lý thuyết:

Đưa sản phẩm vào tầm nhận thức của mọi người sẽ khiến mọi người dần quan tâm, rồi chú ý, và cuối cùng là tin tưởng sản phẩm; khi bắt gặp sản phẩm nhiều lần, sự tín nhiệm và mong muốn sử dụng sẽ càng rõ rệt (không ngạc nhiên khi đây cũng chính là cách những tin đồn lan truyền trong dư luận).

Các nhà nghiên cứu ở Đại học Villanova và Đại học Temple đã giao cho các sinh viên 140 câu nhận định hợp lí (một nửa số câu là đúng, số còn lại là sai) về những chủ đề mà các sinh viên không hay đề cập đến.

Trong ba lần thử nghiệm – mỗi lần cách nhau 2 tuần, các sinh viên được yêu cầu đánh giá mức độ thuyết phục của 60 câu nhận định theo thang từ 1 (không đáng tin) đến 7 (cực kì thuyết phục). Trong số những câu nhận định sai được chọn ngẫu nhiên, có 20 câu lặp lại trong lần thử nghiệm 2 và 3; kết quả nghiên cứu cho thấy những câu nhận định sai được lặp lại được các sinh viên cho điểm thuyết phục cao hơn sau mỗi lần thử nghiệm.

Cách áp dụng:

Quảng cáo tiếp thị dựa trên tài khoản là một công cụ hiệu quả để mang đến sự chú ý cao độ. Trong một nghiên cứu về biểu ngữ quảng cáo trực tuyến, các sinh viên đại học được yêu cầu đọc một bài báo khi quảng cáo biểu ngữ xuất hiện. Nghiên cứu này cho thấy nhóm sinh viên thích mẫu quảng cáo “thử nghiệm” hơn vì nó xuất hiện nhiều hơn.

Tuy nhiên, chiến thuật này chỉ hiệu quả khi người đọc/người xem không hoàn toàn chú ý vào… mẫu quảng cáo hay tiếp thị. Một nghiên cứu đăng trên Tạp chí Personality and Social Psychology cho biết thông điệp lặp đi lặp lại sẽ tăng tính thuyết phục của luận điểm (ngay cả luận điểm yếu) chỉ khi quá trình xử lí của não bộ ở mức thấp (tiềm thức). Điều này có nghĩa: khi khách hàng chỉ tập trung vào bài quảng cáo của bạn, quảng cáo ấy phải cực kì thu hút – nếu không thì việc lặp đi lặp lại sẽ làm mất đi tính thuyết phục và tệ hơn là gây khó chịu.

Khi khách hàng chỉ tập trung vào bài quảng cáo của bạn, quảng cáo ấy phải cực kì thu hút – nếu không thì việc lặp đi lặp lại sẽ làm mất đi tính thuyết phục và tệ hơn là gây khó chịu.

Hiệu ứng “Đám đông”

Khách hàng có xu hướng chọn sản phẩm/dịch vụ vốn đã được đông đảo những khách hàng khác chấp nhận và tin dùng

Lý thuyết:

Một hiệu ứng tâm lí kinh điển của con người: mỗi cá nhân luôn muốn là một thành viên trong một cộng đồng đông đảo khách hàng ủng hộ sản phẩm nào đó. Hiệu ứng này mạnh đến nối bất kì ai cũng có thể bỏ qua hoặc khỏa lấp quan điểm của mình để nghe theo tiếng gọi nơi… đông khách – khi đó họ thường tự nhủ rằng “nếu mọi người đều mua nó thì nghĩa là nó rất tốt, vậy nên mình cũng chẳng cần mất công tìm hiểu làm gì”.

Một ví dụ điển hình khác:

Đã bao giờ bạn chọn xem đoạn phim trên YouTube dựa trên số lượt xem của đoạn phim đó? Các kênh truyền thông xã hội góp phần tăng tính hiệu quả ảnh hưởng của hiệu ứng đám đông đối với người dùng, khi cho mọi người thấy một sản phẩm đăng tải có mức độ phổ biến như thế nào để thu hút nhiều sự chú ý hơn.

Cách áp dụng:

Đề xuất và phản hồi là hai công cụ tạo ấn tượng với các khách hàng tiềm năng. Càng nhiều người bàn về sản phẩm, khẳng định những ưu điểm của sản phẩm, và/hoặc để lại nhiều phản hồi, sản phẩm đó sẽ càng khuyến khích người dùng lựa chọn.

Không chỉ có khả năng thu hút, đám đông còn cho thấy quyền lực điều hướng chú ý. Những nghiên cứu gần đây trên Yelp (một nền tảng tra cứu dịch vụ) cho thấy chỉ cần dịch vụ tăng thêm nửa sao đánh giá thì số lượng khách sử dụng dịch vụ sẽ tăng thêm 49%, và nếu tăng 1 sao thì doanh thu sẽ tăng thêm 5% – 9%.

Hiệu ứng “Trăm nghe không bằng một thấy”

Thể hiện rõ những lợi ích và lợi thế của sản phẩm/dịch vụ sẽ tăng mức độ tin tưởng của khách hàng.

Lý thuyết:

Khách hàng thường dựa trên sự thật, số liệu, hoặc giả thuyết để đặt nghi vấn tính xác thực của những lời quảng cáo; vì thế, họ sẽ bị thuyết phục hơn nếu nhìn thấy những bằng chứng thực tế. Để hiệu quả hơn, quá trình quảng bá cần tăng thêm kịch tính để thu hút nhiều khách hàng tiềm năng hơn.

Huyền thoại ảo thuật Harry Houdini là một ví dụ rất rõ ràng: ở thời mà mọi ảo thuật gia đều diễn trò thoát khỏi áo bó, ông đã nâng tầm trò này (đồng thời tăng lượng khán giả của mình) bằng cách thêm kịch tính: vẫn là thoát khỏi áo bó, nhưng… trong tư thế treo ngược trên cần cẩu hoặc dìm mình trong hồ nước đầy cá mập.

Cách áp dụng:

Hãy tưởng tượng bạn đang chuyển kênh trên TV một cách chán chường để rồi bắt gặp quảng cáo dao bếp cắt xuyên qua một tấm gỗ, một hòn đá, và một cái búa (cắt luôn cả phần đầu búa bằng kim loại)! Bạn có muốn sắm một bộ dao như vậy không?

Đó là đối với khách hàng, còn đối với các doanh nghiệp đối tác thì như thế nào? Hãy để cho họ thấy khả năng sản phẩm bằng cách… tự mình sử dụng sản phẩm đó. Nếu bán một nền tảng điều phối hoạt động kinh doanh, hãy dùng chính nền tảng đó để quản lí kinh doanh và tiếp thị của doanh nghiệp, đồng thời để liên kết với nhiều đối tác và đề xuất nền tảng ở thời điểm thích hợp.

Trong tình hình cạnh tranh ngày càng khốc liệt và khách hàng ngày càng thông thái hiện nay, trọng trách của các nhà tiếp thị lại càng nổi bật hơn. Với những kiến thức về tâm lí học và bí quyết đọc vị khách hàng ngay từ đầu, quá trình quảng bá chắc chắn sẽ diễn ra trôi chảy và hiệu quả hơn đối với từng doanh nghiệp.

Nguồn: Diễn đàn doanh nghiệp

Có thể bạn quan tâm: 

>> Đừng vội tin vào 9 điều sau khi làm Digital Marketing

>> Đừng mải chạy theo Digital mà quên mất các kênh Offline

>> Khẩu vị người Việt: Trà hay Cà phê?

Nhân viên kinh doanh cần xây dựng chiến lược bán hàng đến đối tượng là CEO

Written by

“Bán hàng cho đối tượng cao hơn hay còn có tên gọi là C-Suite (“C-suite” là mức quản lý cao nhất của công ty và được đặt tên theo tiêu đề “c”, chẳng hạn như Giám đốc điều hành (CEO), Giám đốc Tài chính (CFO), Giám đốc hoạt động  (COO )…)” có lẽ là mục tiêu chính trong việc phát triển kinh doanh và bạn có thể thấy lý do tại sao. Ông Marc Benioff – người sáng lập Salesforce.com đã cho hay: “Khi tôi xem xét các giao dịch lớn nhất của công ty, thì tất cả những giao dịch đó đều được thực hiện với CEO và đó là lý do chúng tôi bán phần mềm doanh nghiệp nhiều hơn Oracle hoặc SAP.”

  

Mặc dù có những lợi thế, tuy nhiên, bán hàng cho giám đốc điều hành có thể được coi là một thử thách. Theo một nghiên cứu, giám đốc điều hành dành chưa đến ⅕ sự lưu tâm của họ trong các buổi gặp mặt với nhân viên bán hàng để đem lại giá trị gì đó. Thêm vào đó, C-suite đã trải qua những thay đổi đáng kể trong hai thập kỷ qua. Bản báo cáo cho thấy, trong khi số lượng giám đốc điều hành báo cáo cho CEO đã tăng gấp đôi, chỉ có 35% những công ty thuộc top Fortune 500 (Bảng xếp hạng danh sách 500 công ty lớn nhất Hoa Kỳ theo tổng doanh thu mỗi công ty được biên soạn hàng năm bởi tạp chí Fortune. Danh sách này bao gồm các công ty đại chúng và công ty tư nhân có doanh thu công khai) hoặc S & P 500 (S&P 500 là một chỉ số cổ phiếu dựa trên cổ phiếu phổ thông của 500 công ty có vốn hóa thị trường lớn nhất niêm yết trên Sàn giao dịch chứng khoán New York hoặc Sàn giao dịch chứng khoán Hoa Kỳ) có chức vụ COO – những người chịu trách nhiệm điều hành các hoạt động tại đơn vị kinh doanh. Số lượng các COO đã từng vượt quá số CFO trong các công ty đó, nhưng không phải bây giờ.

Với những thay đổi đó, người bán phải hiểu và nắm rõ thẩm quyền đối với ba vị trí điều hành khác nhau nếu họ muốn giành được khách hàng thuộc tầng lớp C-Suite

  • Bối cảnh: Cách bạn đặt vấn đề, dữ liệu và quan điểm của bạn.
  • Nội dung: Cách bạn hỗ trợ đối số, thông tin chi tiết và quan điểm của bạn.
  • Sự liên hệ/Tiếp xúc: Cách bạn làm việc và kết nối với những người chủ chốt trong tổ chức của bạn và công ty của người mua.

Hãy xem xét từng thứ nguyên chi tiết hơn.

BỐI CẢNH

Khi bán cho giám đốc điều hành, bạn nên lưu ý một vài điều. Thứ nhất, họ quan tâm chủ yếu đến kết quả kinh doanh. Trong quá trình nhận định của mình, họ thường sẽ tự hỏi mình hai câu hỏi: Lý do đầu tiên là sản phẩm hoặc dịch vụ của bạn có tốt hơn các lựa chọn thay thế hay không, lý do còn lại quan trọng không kém là mọi người có thể làm việc với bạn và tổ chức của bạn không? Đó là bởi vì hai câu hỏi này sẽ là yếu tố quyết định, hơn cả việc phân tích tuyệt vời, sản phẩm cao cấp hay cải thiện hiệu suất để giành được một thỏa thuận.

Thứ hai, họ sẽ xem xét nhu cầu và ý kiến ​​có nhiều người ủng hộ. Ví dụ, trong lĩnh vực phân tích dữ liệu đang phát triển, một số nhóm nội bộ có thể quan tâm đến phần mềm cung cấp thông tin chi tiết mới hoặc cải tiến năng suất, trong khi nhóm IT sẽ quan tâm đến việc đảm bảo sự ổn định và bảo mật dữ liệu. Nhằm bổ sung cho điều này, các bên liên quan khác có thể sử dụng những phân tích để nhận ra thiếu sót trong các thủ tục hiện tại của công ty.

Thứ ba, các giám đốc điều hành cấp cao phải xem xét quyết định có thể ảnh hưởng như thế nào đến các bộ phận khác nhau của tổ chức của họ. Ví dụ: thay đổi về doanh số hoặc các quy trình tiếp cận khách hàng khác sẽ ảnh hưởng đến nhiều khía cạnh trong mô hình kinh doanh của họ: các loại đơn đặt hàng của họ, hoạch định năng lực, hoạt động, phân phối, hoạt động sau bán hàng và tương tác hàng ngày giữa các nhóm này. Ngược lại, cải tiến trong quy trình sản xuất hoặc chuỗi cung ứng thường ảnh hưởng đến các nhiệm vụ bán hàng – và nó không phải là “cải tiến” nếu nó gây sụt giảm doanh số bán hàng trong khi tối ưu hóa chỉ số hiệu suất của một nhóm khác. Những phụ thuộc lẫn nhau chéo chức năng này có thể nhìn thấy ở cấp độ cao nhưng thường không thấp hơn trong tổ chức.

Vì vậy, khi quảng cáo sản phẩm, hãy đảm bảo giải quyết những vấn đề nêu trên và thể hiện khả năng của bạn trong việc giúp quản lý những sự thay đổi có thể diễn ra.

NỘI DUNG

Những người thuộc C-Suite thường không có nhiều thời gian, vậy cho nên bạn có trách nhiệm tận dụng tối đa thời gian này bằng cách cung cấp nội dung mà các nhà điều hành đánh giá cao nhất. Hầu hết các đại diện nhãn hàng bỏ lỡ dấu hiệu. Trong một nghiên cứu, người bán đã cung cấp một điều khoản tổng hợp B để chuẩn bị cho cuộc trao đổi với những người thuộc C-Suite, trong khi tại tài khoản của họ đã nêu rõ cho người bán một điều khoản khác loại F.

Dưới đây là một số phương pháp hay nhất:

  • Làm bài tập về nhà đi: Đúng rồi, hãy thực hành tóm tắt báo cáo hoạt động hàng năm. Đồng thời xem xét biểu mẫu 10-K (Biểu mẫu 10-K là báo cáo hàng năm theo yêu cầu của Ủy ban chứng khoán và giao dịch Hoa Kỳ, cung cấp bản tóm tắt toàn diện về hiệu suất tài chính) của một công ty một cách công khai, bên cạnh đó các bài thuyết trình và các thông tin khác bây giờ thường có sẵn trên các trang web của các công ty công khai và tư nhân.
  • Nắm rõ khách hàng của mình: Các công ty không mua, con người làm điều đó. Nhưng có bao nhiêu nhân viên bán hàng dành thời gian để đi đến LinkedIn, Facebook, hoặc các nguồn khác cung cấp thông tin về các giám đốc điều hành cấp cao tại các tài khoản của họ?
  • Quản lý từng phút: Người mua có các đặc quyền mà người bán không có. Bạn có thể chuẩn bị cho cuộc họp và sẵn sàng với các ví dụ hoặc nghiên cứu điển hình thể hiện nhận thức của bạn về ngữ cảnh kinh doanh của khách hàng. Và sau đó bạn phải sẵn sàng để đi với dòng chảy nếu khách hàng đang suy nghĩ về các vấn đề khác. Điều này nói về việc lắng nghe tích cực: được thể hiện trong việc chuẩn bị tốt hơn và chi tiết hơn trong các câu hỏi của bạn.
  • Theo sát: Điều gì xảy ra sau cuộc họp cấp C ít nhất cũng quan trọng như những gì xảy ra trong cuộc họp. Trách nhiệm giải quyết những khó khăn thuộc về bạn, không phải người mua hãy đề xuất các bước tiếp theo mang tính xây dựng.

Hãy nhớ rằng bạn không phải là người duy nhất mà một giám đốc điều hành dành thời gian. Tom Magnuson – giám đốc điều hành của chuỗi khách sạn toàn cầu hàng đầu thế giới đã nói với chúng tôi: “Tôi phải gặp rất nhiều bên hà cung cấp và hầu như không bao giờ mua.” Nhưng nếu nhà cung cấp tôn trọng thời gian của mình và trình bày thông tin có giá trị một cách rõ ràng và súc tích, Magnuson nói anh ấy thích nghe hơn.

Magnuson nhớ lại một câu chuyện thành công của một nhân viên bán hàng đã đến gặp anh sau một bài thuyết trình:

Anh ấy nói nếu đó không phải là thời điểm tốt, anh ấy có thể để lại một tài liệu với tôi. Ông đã rút ra một phong bì và nói rằng nhóm của ông đã trải qua chín tháng phân tích dữ liệu về 1.000 khách sạn Magnuson và có ý tưởng về cách chúng tôi có thể tăng giá phòng và xếp hạng thương hiệu cho mỗi khách sạn. Điều này đã được trình bày trong một vài câu với một đồ thị đơn giản trên một chiếc khăn ăn. Trong vòng vài tuần, chúng tôi đã ký một thỏa thuận phần mềm toàn chuỗi với công ty đó.

Nhân viên bán hàng thành công vì anh biết Magnuson cần gì và cung cấp thông tin chi tiết về khách sạn của mình. “Đừng nói với ai đó rằng ‘Tôi muốn doanh nghiệp của bạn.’ Điều đó giống như nói với họ rằng bạn chỉ muốn tiền của họ,” Magnuson nói thêm. “Bạn không đi đến nhà của một người khác cho bữa tối mà không có một chai rượu vang hay những bông hoa đẹp.”

SỰ LIÊN HỆ/TIẾP XÚC

Một nghiên cứu cổ điển cho thấy rằng trong các ngành công nghiệp, các giám đốc điều hành cấp cao hàng đầu sử dụng việc đánh giá nhân viên bán hàng mà họ trao đổi để đánh giá năng lực của công ty bán hàng. Và bởi vì bây giờ người mua tương tác với tổ chức của bạn ở nhiều nơi , bạn phải có khả năng sắp xếp các tương tác và nguồn lực của mình .

Thay đổi trong C-suite làm cho điều này quan trọng hơn. Vì có ít người quản lý chung hơn trong các cấp bậc của họ, các nhà điều hành đang gặp khó khăn trong việc đạt được sự phối hợp chéo chức năng trong công ty của họ. Vì vậy, họ muốn trao đổi với đại diện bán hàng, những người có thể điều hướng các tổ chức và sử dụng những khả năng đó để tạo điều kiện thay đổi tại công ty.

Ai trong nhóm bán hàng hiện tại của bạn có khả năng này? Có bao nhiêu doanh nghiệp cần có sự nhạy bén và kiến ​​thức doanh nghiệp? Bạn đang làm gì để phát triển khả năng này?

Khi bạn đã xác định được các đặc điểm phù hợp, có khả năng các giám đốc cấp cao khác sẽ đánh giá tương tự.

Đối với nhiều doanh nghiệp, việc tiếp cận với những người thuộc C-Suite hiện là mục tiêu hướng đến để thực hiện chiến lược và thành công trong bán hàng. Nghiên cứu tương tự ghi nhận những thay đổi ở cấp độ C-Suite cũng nhận thấy rằng, mặc dù có nhiều ý kiến về việc trao quyền phân quyền trong các tổ chức, những thay đổi này đã dẫn đến sự kiểm soát nhiều hơn của ban giám đốc điều hành. Nói gì đi chăng nữa việc bán hiệu quả ở cấp độ C-Suite cuối cùng là kết quả của tổ chức – không chỉ là kết quả của những nỗ lực truyền cảm hứng chỉ trong lĩnh vực này.

Nguồn: Saga

Có thể bạn quan tâm:

Marketing chuyển biến trong “thời đại khám phá”

Written by

Google đã mở ra một mô hình mới trong Marketing mà ở đó người tiêu dùng bắt đầu kiểm soát những thông tin mà họ tiếp nhận.

Trong suốt một thời gian dài của lịch sử marketing, ai có thể tạo ra thông điệp hay nhất và truyền tải bằng một cách thức dễ nhớ đến được càng nhiều người thì sẽ chiến thắng. Nhưng trong chưa đến một thập niên gần đây, các loại hình nội dung và cách thức tiêu thụ nội dung tiếp thị đã hoàn toàn thay đổi.

Trở lại thời sơ khai của lịch sử Marketing với quảng cáo báo đầu tiên được ghi nhận vào năm 1704 (trên tờ The Boston News-Letter – nước Mỹ thời thuộc địa). Trong 300 năm sau đó, những thông điệp tiếp thị được tính toán sẵn cho đại chúng đã thống trị cách thức mà người tiêu dùng nhận biết về sản phẩm và dịch vụ.

Cuộc chơi gần như không hề thay đổi: đầu tiên là tìm cách thấu hiểu về người tiêu dùng hay khách hàng mục tiêu, kế đến là tạo ra một quảng cáo sáng tạo, hấp dẫn và mua truyền thông – càng nhiều càng tốt để đưa được thông điệp đó vào tâm trí người tiêu dùng. Đây cũng gần như là cách duy nhất để người dùng biết đến các sản phẩm mới. Ngoại trừ nguồn tin có được nhờ trò chuyện với bạn bè, họ hầu như không có cách nào khác để tiếp cận thông tin.

Bước vào thế kỷ này, tìm kiếm trên web và nhất là Google bắt đầu phổ biến. Lần đầu tiên, người tiêu dùng có thể tìm kiếm và nghiên cứu thông tin sản phẩm trước khi mua hàng. Google đã mở ra một mô hình mới trong tiếp thị mà ở đó người tiêu dùng bắt đầu kiểm soát những thông tin mà họ tiếp nhận. Marketing bước vào “Thời đại tìm kiếm” và đây cũng chỉ là khởi đầu của một sự chuyển đổi lớn hơn nữa.

Thời đại của sự khám phá

Năm 2006, Facebook bước ra khỏi những bức tường của trường đại học để đến với công chúng và truyền thông đã vĩnh viễn thay đổi từ đây. Rồi YouTube, Twitter, Pinterest, Instagram… và những trang mạng xã hội hay ứng dụng di động khác. Phần lớn thời gian của mọi người đã chuyển sang nội dung xã hội.

Người tiêu dùng không còn cần các thông điệp “được tính toán, lập trình” sẵn, cũng chẳng cần tìm kiếm sản phẩm mới. Những sản phẩm này đang ở xung quanh họ. Mọi người đều biết bạn bè mình đang nghe gì, đã mua hoặc muốn mua những sản phẩm thời trang nào. Khi thông tin có ở mọi nơi và từ những nguồn đáng tin, cuộc chơi đã vĩnh viễn thay đổi. Marketing bước vào một thời đại mới: Thời đại của sự khám phá.

Yaron Galai, đồng sáng lập và CEO của Outbrain (một nền tảng quảng cáo tự nhiên) định nghĩa: “Khám phá là khi bạn bắt gặp một điều gì đó tuyệt vời mà bạn không nhất thiết phải tìm kiếm”.

Quá trình khám phá tự nhiên này buộc các thương hiệu phải đầu tư vào việc sáng tạo những trải nghiệm xuyên suốt trên nhiều hình thức truyền thông với nhu cầu phân phối thông tin song hành cùng hành trình của người tiêu dùng trải qua tất cả các giai đoạn của “phễu” bán hàng.

Trong hành trình khám phá đó, mọi sự tương tác với thương hiệu không hẳn đều nhằm thuyết phục để bán hàng ngay. Mọi tương tác cần phải “thực và chất” để “kéo” đối tượng vào một hành động, dù cho họ không có ý định gắn kết với thương hiệu ngay lúc đó. Đây là thời đại mà người tiêu dùng được phục vụ với những trải nghiệm cá nhân.

Các thương hiệu cần tương tác, gắn kết đúng đối tượng, vào đúng thời điểm và đúng giai đoạn trong cuộc hành trình. Người tiêu dùng đang kết nối với điện thoại di động của họ vào thời điểm nào và họ tương tác với loại nội dung nào?

Sự tiến bộ của công nghệ đã mở ra rất nhiều cơ hội và đưa tương tác tiến đến một mức độ mà chỉ cách đây vài năm chúng ta không thể hình dung. Sự khát khao khám phá của người tiêu dùng vẫn tiếp tục gia tăng, họ muốn tự khám phá cũng như tận hưởng cảm giác này.

Marketing và những nguyên tắc quan trọng trong “Thời đại của sự khám phá”

Những thay đổi cơ bản thường dẫn đến việc hình thành các nguyên tắc mới và thường là cả những người lãnh đạo thế hệ mới. Marketers sẽ thành công khi lãnh hội thấu đáo nhất những nguyên tắc sau:

Sản phẩm chính là thông điệp. Hy vọng là người làm tiếp thị có thể tự hào về sản phẩm của họ và cảm thấy rằng nó khẳng định được giá trị trong cuộc cạnh tranh. Quan điểm của người tiêu dùng tiếp tục có tầm quan trọng và sức ảnh hưởng cao hơn. Thương hiệu sẽ thành công nếu không ngần ngại thử nghiệm sản phẩm và tạo ra những chương trình giúp cho người dùng hài lòng với sản phẩm có cơ hội bày tỏ sự ủng hộ, tán dương của họ.

Ảnh hưởng của bạn bè cùng trang lứa. Một nhóm bạn khắng khít thường có ảnh hưởng quan trọng đến quyết định chọn sản phẩm và hiện nay, do sự phát triển của công nghệ xã hội, ảnh hưởng này tiếp tục tăng lên và có thể đo lường được.

Hành động nhanh hơn, xuất sắc hơn. Thời đại của sự khám phá cũng có nghĩa là phải liên tục học hỏi về sản phẩm mới. Cần phải phát triển nhiều sản phẩm hơn và cải tiến sản phẩm nhanh hơn, tạo ra những phân khúc với các nhóm đối tượng nhỏ hơn và truyền thông trong thời gian thực.

Dữ liệu thời gian thực là vua. Cần theo sát người tiêu dùng trong mọi thời điểm. Các cuộc nghiên cứu và khảo sát nhóm theo quý đã trở nên lỗi thời. Duy trì một cuộc đối thoại mở và giám sát những nguồn dữ liệu bên ngoài theo thời gian thực trở thành một đòi hỏi thiết yếu.

Công nghệ là chuẩn mực mới. Công việc của người làm Marketing sẽ xoay quanh việc hiểu và tận dụng công nghệ hơn là sáng tạo một cách hình thức. Những ai thấu hiểu được sự ảnh hưởng qua lại giữa công nghệ và người tiêu dùng sẽ thành công trong cuộc chơi.

Nguồn: Doanh nhân Sài Gòn

Có thể bạn quan tâm:

Nhân viên kinh doanh cần xây dựng chiến lược bán hàng đến đối tượng là ceo

Doanh nghiệp vừa và nhỏ gặp khó khăn trong việc tìm kênh phân phối

Tương lai của ngành mỹ phẩm: Tăng trải nghiệm khách hàng bằng công nghệ


Doanh nghiệp vừa và nhỏ gặp khó khăn trong việc tìm kênh phân phối

Written by

Doanh nghiệp nhỏ và vừa cần sự hỗ trợ từ nhiều phía, đặc biệt là từ các kênh phân phối. Không ít doanh nghiệp Việt nhờ xây dựng thương hiệu thành công mà sản phẩm đã được người tiêu dùng biết đến, thậm chí đã xuất khẩu ra nước ngoài. Tuy nhiên, để được vậy, họ cần sự hỗ trợ từ nhiều phía, đặc biệt là từ các kênh phân phối.

Chia sẻ về thực trạng kinh doanh tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa hiện nay, TS. Đinh Thị Mỹ Loan – Chủ tịch Hiệp hội các nhà bán lẻ Việt Nam cho rằng, các doanh nghiệp nhỏ và vừa gặp nhiều khó khăn trong việc xây dựng thương hiệu, đặc biệt khi sức tiêu thụ của thị trường giảm sút, nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ phải chủ động thu hẹp sản xuất, hoạt động cầm chừng do chưa được người tiêu dùng biết tới, chưa có vốn đầu tư sản xuất, quảng bá thương hiệu, chưa mở rộng được kênh phân phối…

Hành trình nhiều chông gai

Chẳng hạn, Trà Hùng Thái đã gặp không ít khó khăn trong việc xây dựng thương hiệu và đưa sản phẩm đến tay người tiêu dùng. Ông Đỗ Mạnh Hùng – Giám đốc Công ty TNHH MTV Hùng Thái cho biết: “Những ngày đầu thành lập doanh nghiệp, chúng tôi không biết quảng bá, xây dựng thương hiệu như thế nào, các tiêu chuẩn bao bì sản phẩm ra sao cho phù hợp. Đã vậy, hàng làm ra còn bị nhái nên gặp không ít khó khăn. Muốn tồn tại, không gì khác hơn là phải làm phong phú sản phẩm và “gõ cửa” các siêu thị”.

Trong khi đó, Long Triều là cơ sở sản xuất nhỏ nhưng với sản lượng tiêu thụ ở mức 10 – 11 tấn cà phê rang xay mỗi tháng là ao ước của nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam. Không chỉ hiện diện ở các quán cà phê, sản phẩm của Long Triều bắt đầu có mặt ở kênh phân phối siêu thị.

Để có được vị thế này, Long Triều đã rất vất vả trong việc xây dựng thương hiệu. Ông Nguyễn Xuân Tồn – Chủ cơ sở cà phê Long Triều cho biết, nhà có quán cà phê, để có nguồn hàng ổn định về chất lượng, ông đã tự sản xuất cà phê rang xay làm sẵn. Nhiều người uống cà phê ông làm thấy ngon nên đặt hàng, dần dần gia đình ông trở thành cơ sở sản xuất cà phê rang xay bỏ mối cho khách.

Thế nhưng, “trong một thời gian dài khách mua hàng chỉ biết tên tôi chứ không hề biết tên sản phẩm mà tôi đang bán. Từ đó tôi bắt đầu nghĩ sản phẩm của mình phải có thương hiệu để khách hàng nhận diện chứ chỉ bán dựa vào việc quen mặt thì khó mà phát triển. Và vì không biết cách làm thương hiệu nên tôi lấy tên 2 người con là Long, Triều đặt tên cho sản phẩm và xin tranh vẽ của người bạn làm logo”, ông Tồn chia sẻ về cách làm thương hiệu của mình.

Sau khi đã tạo thương hiệu và logo, ông Tồn bắt đầu phát triển sản phẩm và mang hàng đi bán ở kênh phân phối. Do đã có mối quen từ trước nên việc đưa hàng vào kênh truyền thống khá thuận lợi. Tuy nhiên, ở kênh hiện đại, Long Triều gặp khó khăn vì thương hiệu chưa được nhiều người biết đến. Hiện tại, sau thời gian dài loay hoay với việc đưa hàng vào siêu thị, Long Triều mới thâm nhập được vào hệ thống Big C thông qua chương trình “Đồng hành cùng thương hiệu Việt” của Big C.

Theo ông Nguyễn Xuân Tồn, doanh nghiệp nhỏ và vừa muốn xây dựng được thương hiệu phải có sự đồng hành giúp đỡ của các hệ thống phân phối, nhà quản lý… Có như vậy, doanh nghiệp mới đứng vững trên thị trường cạnh tranh khốc liệt như hiện nay.

Nhờ có sự hỗ trợ về vốn, sản xuất, tiếp thị… của Big C mà Long Triều mạnh dạn phát triển sản phẩm và xây dựng được thương hiệu. Khởi nghiệp với cơ sở sản xuất chỉ 30m2, đến nay, Long Triểu đã phát triển lên đến 4.000m2, và dây chuyền sản xuất của doanh nghiệp đã nhận được chứng nhận quản lý sản xuất theo tiêu chuẩn ISO 2000.

Tự thân và ngoại lực

Ở góc độ nhà tư vấn, bà Nguyễn Phi Vân – thành viên sáng lập và phát triển Công ty World Franchise Associates khu vực Đông Nam Á cho rằng, muốn tồn tại và cạnh tranh trong thế giới phẳng, các doanh nghiệp cần phải mở rộng tầm nhìn đến tầm quốc tế để có thể lớn mạnh ngay cả trên sân nhà.

“Phải có tư duy lớn, từ đó huy động nguồn lực, xây dựng thương hiệu vươn ra thị trường khu vực và thế giới. Thay đổi tư duy là đã đi được 50% đoạn đường”, bà Nguyễn Phi Vân nói.

Và thực tế đã có những doanh nghiệp làm được điều bà Phi Vân nói. Bà Vũ Thị Thùy Linh – Phó tổng giám đốc Công ty CP Tân Cương Hòa Bình cho biết: “Muốn tồn tại và phát triển, doanh nghiệp phải nghiên cứu để đa dạng sản phẩm, phục vụ mọi nhu cầu của khách hàng. Bên cạnh các loại trà bình dân, Công ty sản xuất sản phẩm cao cấp và đến nay đã đưa ra thị trường 50 loại trà khác nhau. Và cũng nhờ đó chúng tôi đã xuất khẩu sản phẩm sang các nước châu Âu”.

Từ những thực tế trên, có thể nói, ngoài nỗ lực tự thân, doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng rất cần đến sự hỗ trợ từ kênh phân phối. Ông Philippe Broianigo – TGĐ Central Group Việt Nam và Big C Việt Nam cho biết, các doanh nghiệp vừa và nhỏ là một trong những mối quan tâm hàng đầu của Central Group Việt Nam và Big C Việt Nam.

Từ tháng 10/2016, Big C Việt Nam phát động chương trình “Đồng hành cùng thương hiệu Việt” nhằm tạo điều kiện cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam mở rộng thị trường thông qua kênh bán lẻ hiện đại, góp phần làm nên thương hiệu Việt…

Thời gian qua, nhiều hệ thống phân phối trong nước cũng đã có những hỗ trợ cụ thể cho doanh nghiệp sản xuất, như Co-opmart không tăng chiết khấu trong khi các siêu thị ngoại tăng chiết khấu. Vingroup áp dụng chính sách chiết khấu thương mại ưu đãi mạnh cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa của Việt Nam tiêu thụ hàng qua hệ thống bán lẻ Vinmart của tập đoàn.

Nguồn: Doanh nhân Sài Gòn

Có thể bạn quan tâm:

Xu hướng của ngành quảng cáo ngoài trời tại Việt Nam

WinRar lãi hay lỗ từ việc cho khách hàng dùng thử mãi mãi?

Những thương hiệu đừng nên tin những gì đọc được trên mạng xã hội!


Google Ads và Facebook Ads, đâu là kẻ thắng người thua?

Written by

Gần đây Facebook Ads luôn được đặt lên bàn cân so sánh với Facebook Ads về các chức năng là đâu sẽ là nơi có được lòng tin của khách hàng hơn? Cùng đi tìm câu trả lời nhé!

Bạn đang tìm kiếm nguồn khách hàng tiềm năng nhưng giữa Quảng cáo trên Google (Google Ads) và Quảng cáo trên Facebook (Facebook Ads), đâu là cách đầu tư tốt hơn? Gần như ngày nào chúng tôi cũng nhận được câu hỏi này. Bằng kinh nghiệm sau việc chi tiêu hơn 1 triệu USD cho cả hai hệ thống quảng cáo, tôi mạn phép chia sẻ phương pháp tiếp cận của chúng tôi cho mỗi hệ thống này.

FACEBOOK – Hình thức quảng cáo truyền miệng

Cách thức quảng cáo tốt nhất luôn luôn là truyền miệng. Bởi lẽ chúng ta thường tin tưởng vào nhận xét của bạn bè, gia đình hay đồng nghiệp của mình. Ví dụ như có một nhà hàng Ý mới mở ở ngay góc phố và họ nói rằng họ có món lasagna ngon nhất. Nhưng nhà hàng Ý nào mà chẳng nói vậy! Tuy nhiên sẽ rất khác nếu chính bạn bè và đồng nghiệp của bạn nói rằng lasagna ở đó là loại tuyêt vời nhất mà họ đã từng ăn. Rất có thể bạn sẽ gọi cho nhà hàng đó và đặt chỗ ngay lập tức.

Điều này, ít nhất là trên lí thuyết, lí giải tại sao Facebook Ads lại nắm giữ nhiều tiềm năng cho các doanh nghiệp trung bình như vậy. Khi ai đó nhận xét về một bài đăng trên trang Facebook của công ty bạn, bạn bè của người đó cũng sẽ có cơ hội đọc được bài đăng này. Việc này chẳng khác nào việc người đó nói với tất cả bạn bè của họ rằng họ thích thú với sản phẩm hoặc dịch vụ của bạn.

FACEBOOK hướng tới sở thích và hành vi của người dùng

Mỗi khi đăng trạng thái (status) về bộ phim yêu thích hay buổi hòa nhạc mà ta từng tham dự hay tất cả sự việc khác trong cuộc sống, chúng ta nghĩ đó chỉ đơn thuần là một cách giữ liên lạc với bạn bè, trong khi Facebook lại lấy đó làm “dữ liệu” của họ. Trên thực tế, đây không phải là điều gì quá xấu xa. Ở nhiều góc độ, đó còn là niềm là mơ ước của nhiều nhà kinh doanh. Giả sử bạn có một tổ chức phi lợi nhuận như Spay & Neuter, và bạn muốn có càng nhiều fan càng tốt để cuối cùng họ sẽ trở thành những nhà tài trợ cho bạn.

Bạn có thể nhằm vào những người yêu chó, mèo theo một mã vùng cụ thể. Sau đó, phân loại chi tiết hơn để lựa chọn ra những người yêu chó, mèo gần đây đã ủng hộ trong vùng của bạn. Nếu ở địa vị một người kinh doanh như bạn, đây chắc hẳn là những nguồn khách hàng tuyệt vời.

GOOGLE luôn có câu trả lời

Với hơn 5 tỉ lượt tìm kiếm mỗi ngày, Google là nơi mà ai ai cũng tìm đến để có được câu trả lời cho những thắc mắc của mình. Vì vậy, những doanh nghiệp liên kết với Google phải tìm cách để xuất hiện trên trang đầu tiên của kết quả tìm kiếm để thu hút nhiều khách hàng tiềm năng hơn.

Hơn cả Bách khoa toàn thư, Google trở thành lựa chọn đầu tiên khi muốn tìm kiếm một sản phẩm, dịch vụ, hoặc kể cả một lời khuyên!

Hai mươi năm về trước, việc này dễ dàng hơn nhiều. Ví dụ, nếu bạn là một nhà thầu, bạn sẽ đặt cho website mình mức tín nhiệm loại AAA vì nó sẽ giúp bạn xuất hiện đầu tiên trên các Trang Vàng. Nhưng các Trang Vàng hiện nay không còn phổ biến nữa, vì vậy một chiến lược khác cần được đặt ra để tìm nguồn khách hàng tiềm năng mới.

Chiến lược này được gọi là Search Engine Marketing (SEM). Theo SEM, có 2 dạng truyền thông là Pay-Per-Click (PPC) và Search Engine Optimization (SEO). Mỗi loại đều hiển thị thông tin doanh nghiệp ở ngay kết quả tìm kiếm đầu tiên nhưng theo những cách riêng. Tuy nhiên, để so sánh hiệu quả giữa 2 hệ thống quảng cáo Facebook và Google, tôi sẽ chỉ tập trung vào Google AdWords (PPC).

GOOGLE hướng đến nhu cầu của người dùng

Giả sử bạn là một luật sư đang bị chấn thương, và công cụ quảng cáo bạn đang sử dụng là PPC. Vậy quảng cáo của bạn chỉ được hiển thị khi ai đó tìm kiếm cụm từ “luật sư” hoặc “tai nạn xe đạp” hoặc “chó cắn”, hay bất kỳ cụm từ nào liên quan. Nếu ai đó tìm kiếm những từ ngẫu nhiên như “guitar” hay “TV màn hình phẳng”, quảng cáo của bạn sẽ không xuất hiện. Trong khi đó, những quảng cáo trên truyền hình, đài phát thanh, hoặc báo chí cho phép tiếp cận tới tất cả mọi người, bất kể họ có sẵn mối quan tâm đến sản phẩm/dịch vụ của bạn hay không.

Nói cách khác, với Google Ads, đối tượng mà sẽ nhấp chuột vào quảng cáo của bạn chính là những người thực sự quan tâm đến sản phẩm/dịch vụ của bạn. Hơn nữa, quảng cáo thông thường chưa bao giờ tính toán được tỷ suất sinh lợi trên vốn đầu tư (ROI*) một cách trực tiếp như vậy.

* ROI: Return on Investment

Vậy GOOGLE ADS và FACEBOOK ADS, đâu là kẻ thắng người thua?

Nói một cách đơn giản thì Facebook Ads nhằm vào sở thích và hành vi của khách hàng tiềm năng. Nhưng điều này không có nghĩa là họ đang, hoặc sẽ nghĩ đến việc mua sản phẩm/dịch vụ của bạn. Mặt khác, Google hướng đến người tiêu dùng đang thực sự quan tâm đến sản phẩm/dịch vụ của bạn trong thời gian thực. Truyền thông Facebook giống như cuộc chạy đua đường trường, và nhận được một “Like” trên fanpage mới chỉ là bước đầu tiên. Sau đó, bạn phải đăng bài mới mỗi ngày, bởi vì chỉ có 15% lượng người theo dõi fanpage của bạn có cơ hội đọc được một bài đăng bất kì mà thôi. Tiếp nữa, bạn liên tục phải làm mới những chiến thuật tiếp cận khách hàng. Đến bước này, bạn sẽ “có cơ may” xây dựng được lòng tin từ phía họ. Và rồi dần dần bạn sẽ thấy sự chuyển biến. Còn Google sẽ dẫn khách hàng tới bước cuối cùng ngay khi họ đã quan tâm về sản phẩm của bạn.

Thông thường, PPC ads tốn kém hơn so với Facebook ads. Nhưng khi so sánh với lượng thời gian mà bạn phải dẫn dắt người theo dõi Facebook của bạn đến với các kênh bán hàng, Google rõ ràng là một lựa chọn sáng suốt hơn cả.

Có nên xếp FACEBOOK ADS vào lãng quên?

Hoàn toàn không. Thay vào đó bạn nên ưu tiên chi tiêu cho việc tiếp thị. Nếu bạn đang cần tìm kiếm nhiều khách hàng tiềm năng, hãy đầu tư vào Google PPC và SEO. Sau đó, một khi công cụ Google của bạn đã được tối ưu hóa thì hãy xem xét đến chiến lược quảng cáo trên Facebook.

Nguồn: Linkedin.com

Có thể bạn quan tâm:

Đốt tiền vào Google Adwords với ‘click tặc’ tại Việt Nam

Đi tìm kiếm những từ khóa đắt đỏ nhất của Google Adwords!

WinRar lãi hay lỗ từ việc cho khách hàng dùng thử mãi mãi?


Tương lai của ngành mỹ phẩm: Tăng trải nghiệm khách hàng bằng công nghệ

Written by

Các thương hiệu tên tuổi và những startup trong ngành mỹ phẩm đang khai thác công nghệ mới nhằm mang lại cho người tiêu dùng trẻ cảm giác “đắm chìm” vào thế giới trải nghiệm và khám phá. Những công ty này đang thử nghiệm mang đến cho khách hàng những trải nghiệm thực tế và cá nhân hóa bằng công nghệ thực tế ảo tăng cường (AR), sản phẩm tùy chỉnh theo nhu cầu cá nhân và các tiện ích công nghệ phục vụ cho nhu cầu làm đẹp. Nói chung, họ hứa hẹn tư vấn cho khách hàng những sản phẩm phù hợp hơn, mang lại một trải nghiệm có định hướng sát hơn với nhu cầu của người dùng.

Các công ty đã tạo ra những ứng dụng hàng đầu trong lĩnh vực làm đẹp, hiện được định giá hàng tỉ USD…

Rất nhiều thương hiệu như Benefit, Estée Lauder, Nyx, Sephora,… đã ra mắt những ứng dụng để dùng thử và trải nghiệm sản phẩm trang điểm. Những cái tên như ModiFace và Meitu – các công ty đã tạo ra những ứng dụng hàng đầu trong lĩnh vực làm đẹp, hiện được định giá hàng tỉ USD. L’Oreal là tập đoàn đầu tư lớn vào công nghệ thực tế ảo trong lĩnh vực làm đẹp. Họ đã mua lại công ty “beauty tech” ModiFace (Canada), vốn được biết đến với ứng dụng AR giúp khách hàng có thể “dùng thử” các sản phẩm trang điểm lên mặt và tóc qua hình ảnh selfie được tải lên từ điện thoại di động.

Với quy mô thị trường, những thuận lợi để tiến hành nghiên cứu dữ liệu và hoạt động tiếp thị, thị trường Trung Quốc là một bằng chứng sinh động cho sự phát triển và vận dụng “beauty tech” vào lĩnh vực làm đẹp. Thượng Hải được chọn để tổ chức sự kiện ra mắt “cửa hàng concept” đầu tiên tại châu Á của chuỗi cửa hàng mỹ phẩm Sephora, cho thấy tầm ảnh hưởng ngày càng lớn và mức độ quan trọng của trải nghiệm đối với các công dân thế hệ kỹ thuật số ở Trung Quốc.

Thương hiệu bán lẻ thuộc sở hữu của Tập đoàn LVMH đã đưa chiến lược omnichannel (tích hợp các phương pháp mua sắm khác nhau) đến thị trường Trung Quốc bằng cách đưa các kênh mạng xã hội và thương mại điện tử được địa phương hóa vào cửa hàng. Với “kệ đám mây” có tính năng tương tác của Sephora, khách hàng có thể đặt hàng và tìm kiếm sản phẩm bằng màn hình chạm và kích hoạt bằng giọng nói. Khách hàng cũng có thể thử sản phẩm qua ứng dụng trang điểm Virtual Artist (hợp tác với Meitu). Sephora cũng khai thác kỷ nguyên thương mại xã hội của nước này bằng cách giới thiệu một chương trình trên ứng dụng di động WeChat để khách hàng có thể đặt lịch trang điểm và tìm hiểu về những xu hướng mới nhất. “Mục tiêu của chúng tôi không chỉ là giao dịch bán lẻ mà còn xây dựng một cộng đồng xã hội dành cho những người yêu thích việc làm đẹp ở Trung Quốc” – Chris de Lapuente, CEO của Sephora, nói.

Alibaba đang đưa khái niệm “New Retail” vào ngành mỹ phẩm bằng công nghệ của sàn giao dịch trực tuyến Tmall. Các thương hiệu sẽ được lợi nhờ những thông tin thấu hiểu sâu hơn về người tiêu dùng đồng thời cải thiện trải nghiệm thực cho người mua sắm. Innisfree, thương hiệu mỹ phẩm Hàn Quốc, cũng đã hợp tác với Alibaba để triển khai một địa điểm bán hàng ở Hàng Châu, nơi khách hàng có thể trang điểm ảo bằng Magic Mirror – một công cụ sử dụng công nghệ AR. Khách hàng có thể mua ngay hoặc quét mã QR và mua sắm trực tuyến sau đó. L’Oréal cũng sử dụng Magic Mirror trong các cửa hàng của họ trên khắp Trung Quốc.

17Beauty là một công ty startup trong lĩnh vực bán lẻ mỹ phẩm có văn phòng ở Bắc Kinh và chỉ mới xuất hiện cách đây vài tháng. Ngoài các tên tuổi quốc tế, 17Beauty còn hợp tác với các nhãn hiệu Hàn Quốc vì những công ty này không có nhiều ngân sách để tổ chức sự kiện trong giai đoạn đầu thâm nhập thị trường. Người mua sắm có thể quét mã QR bằng ứng dụng di động để tiếp cận các quầy tự phục vụ và dịch vụ tư vấn trang điểm qua hệ thống nhận dạng gương mặt.

Nguồn: Doanh Nhân Plus

Có thể bạn quan tâm: 

Facebook Messenger phiên bản thứ 4 sẽ giúp người dùng dễ dàng kết nối với thương hiệu

Written by

Ứng dụng nhắn tin sẽ giúp tab ‘Khám phá’ nổi bật để người dùng có thể trực tiếp nhắn tin cho các công ty trên nền tảng này. 

Facebook đã bắt đầu tung ra một phiên bản Messenger mới – mang tên Messenger 4 – hứa hẹn một trải nghiệm “đơn giản hóa” hơn. Trong số các bản cập nhật, ứng dụng nhắn tin đang giảm số lượng tab hiện tại từ chín tab xuống còn ba tab: tab Trò chuyện, tab Mọi người và tab Khám phá.

Các tính năng mới khác sẽ bao gồm khả năng cá nhân hóa các cuộc trò chuyện bằng cách sử dụng các dải màu màu tùy chỉnh để phản ánh tâm trạng hoặc chủ đề của cuộc hội thoại và giao diện “Chế độ tối màu” giúp giảm thiểu độ sáng của màn hình điện thoại.

Tại sao các marketer nên quan tâm?

Trong khi các phiên bản trước của Facebook Messenger có một tab “Khám phá”, Messenger 4 sẽ cung cấp thêm sự nổi bật cho khu vực của ứng dụng nơi người dùng có thể tìm và giao tiếp trực tiếp với doanh nghiệp.

Trước đây, Facebook Messenger bao gồm chín tab, nhưng khi phiên bản mới nhất bắt đầu triển khai, người dùng sẽ chỉ thấy ba tab – tab Trò chuyện sẽ là “mặt trước và trung tâm” và bao gồm Máy ảnh ở trên cùng; tab “Mọi người” để tìm bạn bè, xem ai đang hoạt động và xem phần Stories; và, tab “Khám phá” – nơi người dùng có thể “… kết nối với các doanh nghiệp để nhận các giao dịch mới nhất, chơi Trò chơi tức thì, đặt lịch cho kỳ nghỉ tiếp theo của bạn, theo dõi tin tức và hơn thế nữa”.

Facebook Messenger đang thu hút nhiều thương hiệu hơn trong khi nhiều công ty đang sử dụng nền tảng nhắn tin để tiếp cận người tiêu dùng, trực tiếp hoặc quảng cáo. Nỗ lực của Facebook để đơn giản hóa bố cục của Messenger và thúc đẩy nhiều hoạt động tương tác hơn với mục tiêu kiếm tiền từ ứng dụng Messenger của công ty để đem lại nguồn doanh thu quảng cáo nhất quán.

Akvile DeFazio, chủ tịch công ty tiếp thị truyền thông xã hội AKvertise cho biết công ty của cô đã tăng cường nỗ lực quảng cáo trên Facebook Messenger cho khách hàng vì những kết quả họ đang thấy được.

“Facebook Messenger ngày càng được sử dụng rộng rãi cho người dùng và nhà quảng cáo. Đó là một động thái thông minh để Facebook bắt đầu thống trị không gian trò chuyện – với các ứng dụng Messenger và cuộc trò chuyện mang thương hiệu đến gần người tiêu dùng và theo cách được cá nhân hóa hơn, sẽ có nhiều email hơn trong những ngày này ”, DeFazio nói.

Thông tin thêm về Facebook Messenger 4

  • Messenger 4 chuẩn bị ra mắt trên toàn cầu trong một vài tuần tới khi Facebook cho biết họ muốn cung cấp cho người dùng thời gian để làm quen với những thay đổi.
  • Tất cả các tính năng được thêm trước đây – chẳng hạn như thăm dò ý kiến, trò chuyện video và khả năng chia sẻ vị trí hiện tại của bạn hoặc chơi trò chơi với bạn bè – vẫn có sẵn trong phiên bản mới này.
  • Theo nghiên cứu được tiến hành bởi Kelton Global vào tháng 8 năm nay, bảy trên mười người nói tính đơn giản là ưu tiên hàng đầu cho họ khi sử dụng một ứng dụng nhắn tin.

Nguồn: Marketingland

Đốt tiền vào Google Adwords với ‘click tặc’ tại Việt Nam

Written by

Google Adwords là một trong những kênh quảng cáo phổ biến trong kinh doanh. Tuy nhiên cạnh tranh không lành mạnh đã biến công cụ này thành một nơi đốt tiền của nhà quảng cáo.

“Đặt ngân sách 5 triệu đồng cho một từ khóa, chỉ trong một đêm số tiền đó đã hết sạch. Tôi hoàn toàn bất lực trước tình trạng bị đối thủ cạnh tranh chơi xấu như vậy”, anh Thanh Tùng, nhân viên bán bất động sản của một công ty môi giới quận 3, TP.HCM cho biết về vấn nạn “click tặc”.

Google Adwords, một công cụ giúp nhà quảng cáo đưa mặt hàng, doanh nghiệp của mình đến với khách hàng thông qua những từ khóa được chỉ định trước. Khi người dùng tìm kiếm một từ khóa nào đó trên Google Search, công cụ này sẽ ưu tiên những đường link của các nhà quảng cáo đã “mua” từ khóa đó. Nếu người tìm kiếm bấm vào, nhà quảng cáo sẽ bị trừ số tiền trong ngân sách dùng để mua từ khóa.

Giá của mỗi từ khóa tùy thuộc vào ngành nghề, Google sẽ dựa trên độ hot, số lượng người mua và ngân sách dành cho từ khóa mà sắp xếp thứ tự ưu tiên và định giá cho mỗi từ. Thuật ngữ trong giới gọi là “đấu giá từ khóa”.

Lợi dụng lỗ hổng này, nhiều cá nhân cạnh tranh không lành mạnh đã tạo ra những công cụ click liên kết. Đối tượng này được dân trong nghề gọi là “click tặc”, chuyên nhấn vào quảng cáo của đối thủ khiến họ cạn kiệt ngân sách.  

Mỗi click mất một tô phở

“Mỗi click bay mất tô phở 50 nghìn đồng là chuyện hết sức bình thường. Trung bình mỗi nhân viên bất động sản sẽ được cấp một khoản phí để chạy quảng cáo cho dự án mà mình nhận. Đáng buồn là nhiều trường hợp tôi phát hiện chính đồng nghiệp của mình đã hãm hại, click từ khóa của tôi vì cạnh tranh lợi ích”, anh Tùng xót xa chia sẻ vấn nạn này.

Những bộ công cụ click liên kết được rao bán, chia sẻ công khai trên rất nhiều hội nhóm kinh doanh điện tử. Nó gần như được xem là một thủ thuật không thể thiếu trong thời buổi cạnh tranh khốc liệt về từ khóa tìm kiếm như hiện nay.

“Nếu triệt hạ được từ khóa của đối thủ, khiến họ hết ngân sách thì từ khóa của bạn sẽ leo lên vị trí ưu tiên với giá rẻ hơn vì bạn nắm trong tay thế chủ động”, anh Lê Minh Hiệp, ngụ Đồng Nai, một người am hiểu về Adwords cho biết.

“Số tiền trên cho thấy Google đã biết lắng nghe khách hàng, nhưng thứ tôi cần là hiệu quả công việc” – chị Hiền, nhân viên bán xe.

Tùy từng đặc trưng về ngành nghề mà độ khốc liệt của cuộc chiến này thay đổi theo. Cao nhất là ở các loại hình kinh doanh đắt tiền như bất động sản, xe hơi, tour du lịch. Độ cạnh tranh giảm xuống với các ngành nghề đặc thù và ít người kinh doanh.

“Đặc thù mặt hàng xe hơi là khách hàng sẽ tìm hiểu rất kỹ trước khi quyết định mua xe. Vì thế công cụ tìm kiếm Google Adwords hỗ trợ rất tốt cho dạng khách hàng này. Ba tháng nay tôi đã đốt hơn 100 triệu cho nó nhưng số xe bán được chỉ đủ trả chi phí đó, dư lại một ít không tương xứng với sức lao động”, chị Hiền, nhân viên bán xe hơi tại Tân Bình cho biết.

Am hiểu Google Adwords để không đốt tiền

Google cho phép nhà quảng cáo chặn những IP – mã định danh thiết bị Internet mà họ không muốn liên kết của mình xuất hiện. Đây là một trong số những giải pháp ít ỏi mà nhà quảng cáo có thể dùng để phòng tránh nạn “click tặc”. Bằng cách phân tích những IP ảo đã từng click từ khóa của mình, người quảng cáo có thể tiến hành chặn chúng. Nhưng phương án này khá bị động.

“Trước đây việc tạo IP ảo để click quảng cáo không quá khó, ngày nay lại càng có nhiều công cụ để hỗ trợ cho việc này hơn. Chỉ cần reset bộ phát 3G thì IP này đã được thay đổi. Ngoài ra có những “click tặc” chuyên nghiệp có thể check-in ảo để thu hút quảng cáo dựa trên cơ chế hiển thị từ khóa theo địa điểm”, anh Hiệp phân tích về các mánh khóe của hình thức cạnh tranh không công bằng này.

Để tránh việc phải “ném tiền qua cửa sổ” những người làm kinh doanh phụ thuộc vào Adwords cần trang bị cho mình những hiểu biết nhất định về công cụ này.

“Chia nhỏ các chiến dịch quảng cáo, thu thập IP ảo để chặn và giữ bí mật về dự án kinh doanh tránh tiết lộ cho đối thủ là những giải pháp tạm thời để kiểm soát tình trạng “click tặc”. Hiện tại cách để tránh hoàn toàn vẫn chưa có”, anh Hiệp chia sẻ thêm về cách phòng chống.

Mục đích của việc chia nhỏ chiến dịch là để giảm thiểu việc một từ khóa bị click một cách mất kiểm soát, khiến đối thủ mất thời gian hơn trong việc tìm kiếm và chơi xấu.

Qua những lần bị click ảo phá hoại, người quảng cáo sẽ thu thập được một lượng lớn các IP ảo để tiến hành chặn cho mỗi chiến dịch. Và cuối cùng là giữ bí mật những dự án kinh doanh, kho từ khóa của cá nhân để tránh phải cạnh tranh với những từ khóa thông thường với giá rất cao.

“Tôi chỉ là một nhân viên kinh doanh bất động sản đơn thuần, vì thế kiến thức và thời gian dành ra để tìm hiểu sâu về công cụ này rất hạn chế. Với những người cùng cảnh ngộ, hãy nhờ đến những đơn vị chuyên nghiệp. Đừng đốt tiền vào những thứ mà mình không thật sự am hiểu”, anh Tùng chia sẻ về việc thuê một đơn vị khác hỗ trợ mình.

Ngoài Facebook và những kênh quảng cáo, truyền thông khác thì Google Adwords cũng là một kênh mà các nhà quảng cáo muốn hướng tới. Nhưng cạnh tranh công bằng đã khiến nhiều nhà quảng cáo đốt hàng trăm triệu đồng không mang lại hiệu quả, một số người đã từ bỏ Google Adwords vì không thể cạnh tranh.

Nguồn: Zing News

Có thể bạn quan tâm:

Đi tìm kiếm những từ khóa đắt đỏ nhất của Google Adwords!

Xu hướng của ngành quảng cáo ngoài trời tại Việt Nam

WinRar lãi hay lỗ từ việc cho khách hàng dùng thử mãi mãi?


6 nội dung “quảng cáo như không quảng cáo” từ các ông lớn

Written by

Để thu hút cũng như tăng thêm niềm tin của độc giả, các nhà tiếp thị cao thủ sẽ dùng chiến thuật “quảng cáo như không quảng cáo”.

Bình thường, không ai muốn xem quảng cáo. Người ta cũng thường không tin các nội dung, thông tin trong bài quảng cáo. Bởi vậy, để thu hút cũng như tăng thêm niềm tin của độc giả, các nhà tiếp thị cao thủ sẽ dùng chiến thuật “quảng cáo như không quảng cáo”.

Hãy xem thử 6 hãng lớn dưới đây đã từng quảng cáo như không quảng cáo thế nào.

1. Mercedes-Benz

Dù ta khó có thể thấy điểm chung giữa xe hơi Mercedes và blogger thời trang Leandra Medine, hãng ô tô Đức vẫn hợp tác với blogger này để cho ra mắt đoạn phim với tựa đề A Day in the Life of the Man Repeller (biệt danh của Medine).

Trong đoạn phim này, blogger thời trang trải qua một ngày “như mọi ngày” với lịch trình và trải nghiệm bình thường nhất, chỉ khác ở chỗ là cô ấy lái một chiếc Mercedes khi di chuyển. Một ý tưởng tinh tế khi kết hợp thể hiện thời gian biểu hàng ngày và lồng ghép sản phẩm sẽ gắn bó với bất kì ai mỗi ngày – quảng cáo nhưng không hẳn là quảng cáo. Đoạn phim ấy chỉ là một ví dụ trong số nhiều đoạn phim đăng tải trên kênh YouTube của Mercedes, cho thấy nỗ lực mang đến nội dung chất lượng cao và thú vị để hút người xem.

2. Hãng hàng không JetBlue

Với chiến lược tiếp thị nội dung tập trung vào mạng xã hội và thành quả là 1,3 triệu người trên Facebook, 1,9 triệu người trên Twitter, và 290 ngàn người trên Instagram, rõ ràng hãng bay đến từ Hoa Kì này đang đi đúng hướng khi gây sự chú ý của độc giả.

Đơn cử như trên Instagram, JetBlue hướng đến nhóm độc giả chính – những người thích đi máy bay/du lịch – bằng cách đăng nội dung hấp dẫn họ. Một trong những nội dung đó là bài đăng hàng tuần #DestinationFriday, trong đó đăng ảnh đẹp địa danh kèm theo những lời khuyên từ phi hành đoàn và cả những câu đố gây tò mò cho những người theo dõi.

3. Chợ đồ thủ công Etsy

Là nền tảng trực tuyến chuyên mua bán sản phẩm thủ công và những món đồ độc lạ, Etsy cũng đã thành công trong việc truyền tải nội dung đến khách hàng thông qua trang Facebook Etsy Success.

Trên trang Facebook này, cộng đồng những người bán chính là người tạo ra nội dung: trang này đăng những bí quyết quản lí cửa hàng Etsy, chia sẻ những câu chuyện thành công trên “thương trường”, và có cả phần quà tặng độc giả.

Dù không thực sự giúp tăng doanh số, những bài đăng như vậy sẽ giúp các độc giả hiểu được công việc của một “lái buôn” trên Etsy, cũng như hiểu được cách Etsy hỗ trợ họ chăm sóc cửa hàng trực tuyến.

4. Hãng thời trang The Elephant Pants

Đây là cửa hàng trực tuyến bán quần harem pants (loại quần được thiết kế với phần hông rủ và càng xuống mắt cá chân thì càng ôm) và nhiều món thời trang khác. Dù những nhà sáng lập của The Elephant Pants tự hào về sự thoải mái của những chiếc quần họ bán ra, yếu tố giúp họ có được sự đồng cảm của khách hàng chính là khát khao cứu loài voi không bị tuyệt chủng.

Với ý tưởng đó, họ đã thiết kế chiến lược tiếp thị nhằm thu hút và thông báo khách hàng về sứ mệnh của họ theo một cách ngộ nghĩnh và tương tác cao – câu đố. Những câu hỏi như “Bạn giống voi đến mức nào?” hướng đến đối tượng người yêu động vật/voi và giúp họ giải trí trên trang web mà không phải “nhắc khéo” họ móc hầu bao.

5. Trang cho thuê chỗ ở Airbnb

Chỉ trong một thời gian ngắn mà cái tên Airbnb trở nên phổ biến khắp mọi nhà – tất nhiên là nhờ vào chiến lược tiếp thị nội dung cực kì hiệu quả.

Vốn nổi tiếng về cung cấp chỗ ở giá rẻ trong thời gian ngắn cho những người đi du lịch, vì yêu cầu đặc thù của thị trường, nền tảng trực tuyến này đã ưu tiên mang đến nội dung cần thiết thông qua các kênh như sách hướng dẫn – những thông tin này đến từ người địa phương từ nhiều thành phố, mách nước về những địa điểm lí tưởng để ăn uống hay mua sắm ở các thành phố đó.

Với việc cung cấp nội dung quý giá như vậy cho nhóm độc giả chủ đạo, không ngạc nhiên khu Airbnb là một trong những thương hiệu du lịch phát triển vượt bậc.

6. Adidas

Nổi tiếng về dụng cụ và trang phục thể thao, Adidas có chiến lược là tiếp thị trên các nền tảng B2B như mạng xã hội nghề nghiệp LinkedIn. Dù thiên về trao đổi giữa các doanh nghiệp, LinkedIn có một lợi thế cố hữu: các thành viên tham gia cũng chính là người tiêu dùng. Vì thế, Adidas đã tấn công vào nền tảng xã hội này để thu hút độc giả chủ đạo.

Gần đây, các thành viên LinkedIn lại được một phen chú ý khi Adidas đăng bài rằng hãng hợp tác với một huấn luyện viên Yoga (cũng là vận động viên đại diện cho hãng). Bài đăng không gợi ý cho người dùng mua sản phẩm của Adidas, nhưng nó giúp độc giả hiểu được cuộc sống của nhân viên của hãng, qua đó đẩy mạnh quảng bá thương hiệu.

Qua các ví dụ trên, rõ ràng tiếp thị nội dung giúp tăng lợi nhuận. Các doanh nghiệp cần nắm được loại hình và chủ đề nội dung mà độc giả chủ đạo mong muốn. Ngoài ra, các doanh nghiệp còn có thể tìm hiểu dữ liệu khách hàng, xác định chủ đề và loại hình nội dung mà độc giả mong muốn, và làm tất cả mọi thứ để tạo nội dung từ dữ liệu thu thập cho độc giả. Nội dung càng hay sẽ càng hấp dẫn – đến mức những người không thường xuyên lên mạng cũng có thể trở thành khách hàng chỉ sau phút chốc xem nội dung quảng cáo… trực tuyến.

Nguồn: Cộng đồng Isocial 

Có thể bạn quan tâm:

Đi tìm kiếm những từ khóa đắt đỏ nhất của Google Adwords!

Written by

Chúng ta có lẽ không còn xa lạ gì với Google Adwords, dịch vụ cung cấp thứ hạng tìm kiếm, vị trí hiển thị ưu tiên của Google cho các đối tượng có nhu cầu quảng cáo sản phẩm và thương hiệu của mình. Ra đời từ năm 2000, Google Adwords đã giúp hàng triệu doanh nghiệp trên toàn thế giới tiếp cận khách hàng và kinh doanh hiệu quả hơn.

Quay ngược lại thời điểm năm 2011, khi mọi thứ còn khá mới mẻ, “mesothelioma” được đồn đoán là từ khóa đắt đỏ nhất của Google AdWords với trị giá 100 đô-la Mỹ cho mỗi lần nhấp chuột. Sau 6 năm, thời thế đã thực sự thay đổi ở thời điểm hiện tại, Các từ khoá của các thị trường ngách trở nên có giá một cách đáng kinh ngạc.

Sau đây là 25 từ khóa đắt nhất được tổng hợp trong vòng một năm qua

  1. Business Services (Dịch vụ kinh doanh) $58.64
  2. Bail Bonds (Giấy bảo lãnh tại ngoại) $58.48
  3. Casino $55.48
  4. Lawyer (Luật sư) $54.86
  5. Asset Management (Quản lý tài sản) $49.86
  6. Insurance (Bảo hiểm) $48.41
  7. Cash Services & Payday Loans (Dịch vụ tiền mặt & Các khoản vay ngắn hạn) $48.18
  8. Cleanup & Restoration Services (Dịch vụ vệ sinh & sửa chữa) $47.61
  9. Degree (Bằng cấp) $47.36
  10. Medical Coding Services (Dịch vụ mã hóa tài liệu y tế) $46.84
  11. Rehab (Phục hồi chức năng) $46.14
  12. Psychic (Tâm linh/ Nhà ngoại cảm) $43.78
  13. Timeshare (Bất động sản du lịch cho thuê) $42.13
  14. HVAC (Heating, Ventilation, and Air Conditioning – Sưởi ấm, thông gió và điều hòa không khí) $41.24
  15. Business Software (Phần mềm kinh doanh) $41.12
  16. Medical Needs (Nhu cầu y tế) $40.73
  17. Loans (Dịch vụ cho vay) $40.69
  18. Plumber (Thợ sửa ống nước) $39.19
  19. Termites (Diệt mối) $38.88
  20. Pest Control (Diệt côn trùng) $38.84
  21. Mortgages (Vay thế chấp) $36.76
  22. Online Gambling (Cá cược online) $32.84
  23. Banking (Ngân hàng) $31.43
  24. Hair Transplant (Cấy tóc) $31.37
  25. Google AdWords $30.06

Vì sao những từ khóa này lại mắc đến vậy?

Nhìn chung, giá của từ khóa AdWords sẽ tăng dần theo các mốc cụ thể dựa theo những lý do sau:

Người dùng gặp phải vấn đề và họ thật sự cần sự giúp đỡ ngay tức thời

Khi người dùng cần sự giúp đỡ cấp thiết, họ sẽ sẵn sàng chi trả cho dịch vụ hoặc sản phẩm có thể giải quyết vấn đề của mình. Điều này có nghĩa là những công ty “chạy” quảng cáo sẽ lấy giá cao hơn cho những dịch vụ của họ, và họ thường đạt được ROI (Return on Investment – tỷ lệ lợi nhuận thu được so với chi phí bạn đầu tư) cao về khoản chi quảng cáo dù chi phí cho mỗi lần nhấp chuột khá đắt.

Tính cạnh tranh trong lĩnh vực này khá cao, vì người dùng không nhất thiết phải mất quá nhiều thời gian để quyết định họ sẽ dùng dịch vụ ở đâu – điều họ cần là sự giúp đỡ ngay tức thời! Ví dụ, một trong những từ khóa được tìm kiếm nhiều trong danh mục “dịch vụ y tế” là “phòng cấp cứu gần địa điểm của tôi.” Nếu nhà quảng cáo có mặt đúng nơi, đúng thời điểm, họ sẽ thu đợc lợi nhuận đáng kể.

Dưới đây là những từ khóa ví dụ về những trường hợp khẩn cấp:

  • “Bail bonds” ở vị trí #2
  • “Lawyer” ở vị trí #4
  • “Cash services & payday loans” ở vị trí #7
  • “Rehab” ở vị trí #11
  • “Plumber” ở vị trí #18
  • “Termites” ở vị trí #19
  • “Pest control” ở vị trí #20

Dịch vụ hoặc sản phẩm có giá cao

Tại thời điểm gần đây nhất, các từ khóa liên quan đến bảo hiểm được nằm đầu danh sách. Theo dữ liệu có được, bảo hiểm đã không còn giữ vị trí “ngôi vua”. Đây là tín hiệu tốt dành cho các nhà tiếp thị đang cố gắng vươn lên dẫn đầu trong ngành bảo hiểm.

Hiện tại, chúng có giá trung bình khoảng 50 đô-la Mỹ cho mỗi lần nhấp chuột. Và có những trường hợp ngoại lệ như “bảo hiểm những sai sót” vẫn có giá lên đến hơn 300 đô-la Mỹ cho mỗi lần nhấp chuột! Hiện tại, những từ khóa đắt nhất thuộc về danh mục “dịch vụ kinh doanh” – những từ như “data room” (phòng dữ liệu) và “network security monitoring” (giám sát an ninh mạng) – vì các dịch vụ này thường rất tốn kém.

Những công ty cung cấp các dịch vụ kinh doanh sẵn lòng bán đấu giá cao cho mỗi từ khóa vì lợi nhuận mà các khách hàng tiềm năng có thể thu về còn nhiều hơn thế, dù đó là một giao dịch mua hàng lớn hay là một dịch vụ có giá trị lâu dài của khách hàng.

Xu hướng tương tự cũng xảy ra trong năm nay – “Asset Management” (Quản lý tài sản) ở vị trí thứ 5 (49.86 đô-la Mỹ cho mỗi lần nhấp chuột) và “banking” (ngân hàng) là vị trí thứ 23. Các từ khóa liên quan đến Pháp luật vẫn giữ được vị trí cao, và trung bình những từ khóa liên quan đến dịch vụ pháp lý thậm chí còn đắt hơn (54.86 đô-la Mỹ cho mỗi lần nhấp chuột so với mức giá 42.51 đô-la Mỹ vào năm 2011). Đây là một trong những lý do giải thích vì sao tiếp thị cho các công ty luật lại là một thách thức.

Hiện thực hóa những hy vọng và ước mơ của bạn

Chúng ta thường phải chi trả rất nhiều để thực hiện những ước mơ của mình. Đối với một số người, những ước mơ ấy có thể là về việc được đi học. Tất cả chúng ta đều thích được học hỏi thêm và “degree” (bằng cấp) là từ khóa rất tốn kém. Một khi bạn có bằng cấp, bạn có thể tìm được công việc trả lương cao hơn, và sau đó tự thưởng cho mình một kỳ nghỉ hoành tráng!

Những từ khóa liên quan đến du lịch như “Đánh giá Hilton” xuất hiện ở vị trí thứ 13 trong danh sách năm nay. Song, người nhấp vào quảng cáo vẫn chưa từ bỏ thói quen xấu của chính minh – “casino” chiếm vị trí thứ 3 (55.48 đô-la Mỹ cho mỗi lần nhấp chuột) và “cá cược online” ở vị trí thứ 22. Sẽ chẳng cần đi đến Las Vegas khi cuộc vui nằm ngay tại laptop của bạn!

Trò chuyện với các nhà tâm linh hay cấy tóc cũng là những dịch vụ được tìm kiếm! Và cuối cùng, từ khóa mắc thứ 25 của Google AdWords lại là… Google AdWords thật ngoài mong đợi! Thỉnh thoảng người dùng vẫn google “google”, và bán đấu giá “google adwords” ở Google AdWords.

Trên đây là top 25 từ khóa đắt nhất tính đến thời điểm hiện tại, bạn ngạc nhiên chứ?

Nguồn: iPrice Group

Có thể bạn quan tâm:

Liệu các hãng hàng không truyền thống có lép vế khi xuất hiện “đối thủ ngầm”?

Đừng vội tin vào 9 điều sau khi làm Digital Marketing

Tại sao Digital Marketing quan trọng với doanh nghiệp vừa và nhỏ?