Blog Archive - Page 2 of 18 - SAGE - Applied Marketing Academy

Phân tích chiến dịch Baby Shark đưa Shopee bay cao khắp Đông Nam Á

Written by

“Cùng Shopee pi pi pi pi pi…”, chắc trong đầu bạn tới giờ vẫn còn văng vẳng bài hát của cặp đôi Bảo Anh – Tiến Dũng? Nếu thế thì bạn chính là một trong hàng triệu khách hàng đã bị Shopee quyến rũ bằng chiến dịch quảng cáo viral đầy hiệu quả này.

Thật vậy, theo bảng xếp hạng mới của công ty so sánh giá iPrice, trong quý 3 vừa qua, sàn mua bán Shopee đã lần đầu tiên đạt số lượt truy cập website trung bình cao nhất cả nước.

Shopee đã có một bước nhảy vọt khi số lượt truy cập website của họ tăng đến hơn 30%, đưa họ từ vị trí thứ ba lên dẫn đầu.

Đáng chú ý là xu hướng này không chỉ xuất hiện ở Việt Nam mà theo iPrice, Shopee đang tăng trưởng tốt về lượt truy cập website ở khắp Đông Nam Á. Ở Malaysia, Indonesia, Philippines và Thái Lan, số lượt truy cập của họ đều tăng trong khi nhiều đối thủ bị sụt giảm.

Điều này chắc chắn nhờ một phần không nhỏ từ chiến dịch Baby Shark đang được Shopee áp dụng trên toàn khu vực.

Vậy có các yếu tố nào đã làm nên thành công cho chiến dịch này?

Shopee phủ sóng áp dụng toàn Đông Nam Á

Indonesia và Thái Lan là các thị trường đầu tiên được Shopee chọn để bắt đầu campaign này. Tiếp theo đó, campaign gây nghiện của Shopee được lần lượt giới thiệu đến Việt Nam, Malaysia, Philippines và Singapore.

Ở mỗi nước thì tuy có một số thay đổi nhằm bản địa hóa nhưng mô típ chung vẫn được Shopee giữ nguyên: vẫn là bài hát Baby Shark cùng điệu nhảy dễ thương trình diễn bởi hai nhân vật nổi tiếng.

Và dù là ở nước nào, TVC của Shopee cũng viral. Ở Indonesia, video Shopee Shark đạt đến 83 triệu view, còn ở Việt Nam và Thái Lan, con số này cũng đã xấp xỉ 50 triệu. Ngay cả ở Singapore, nơi mà Shopee chỉ mới bắt đầu chiến dịch cách đây 1 tuần, thì TVC này cũng đã lập tức gây sự chú ý, trở thành đề tài bàn tán cho cộng đồng mạng và báo chí.

Lời bài hát ngắn gọn, bắt tai

Có được thành công mang tính quốc tế như vậy, chính là nhờ Shopee đã áp dụng một công thức chung hoàn hảo: bài hát Baby Shark.

Bài hát này vốn là bài nhạc thiếu nhi đã viral trước đó, nay được Shopee khéo léo lồng thương hiệu của mình vào. Việc chọn một bài hát thiếu nhi cũng là một quyết định thông minh: nhạc thiếu nhi thường ngắn gọn, bắt tai mà lại dễ thuộc, là công thức hoàn hảo cho các chiến dịch viral.

Kèm theo đó, cái tên Shopee lặp đi lặp lại suốt bài cũng làm tăng nhận biết cho thương hiệu và khiến người tiêu dùng dễ dàng liên tưởng đến Shopee mỗi khi nghe thấy giai điệu bài hát.

Còn nhớ vào năm ngoái, thị trường bán lẻ cũng có một campaign khác rất thành công là bài hát của Điện Máy Xanh. Thời điểm đó cứ nhắc đến điện máy là người ta nghĩ đến Điện Máy Xanh. Tuy chưa đạt đến mức độ thành công như vậy nhưng có thể thấy Shopee cũng đang muốn áp dụng công thức viral này để cứ nhắc đến shopping là khách hàng sẽ nhớ đến Shopee.

Có yếu tố gây tranh cãi

Có một điểm đáng chú ý là tuy viral nhưng không phải ai cũng đón nhận bài hát của Shopee một cách tích cực.

Cụ thể, video có sự xuất hiện của Bảo Anh – Tiến Dũng tuy đạt được 33 nghìn lượt like trên YouTube nhưng đồng thời cũng có đến 14 nghìn lượt dislike. Dạo một vòng qua các comment thì cũng sẽ thấy nhiều ý kiến trái chiều. Trong đó, có không ít comment chê nội dung clip đồng thời than phiền về giai điệu “ám ảnh” của bài nhạc.

Nhưng chính những tranh cãi trái chiều đó lại càng khiến campaign của Shopee nổi bật hơn.

Cụ thể, theo số liệu từ Google Trends thì chỉ trong vòng 1 tháng sau khi quảng cáo này xuất hiện ở Việt Nam thì từ khóa “quảng cáo Shopee” đã được tìm kiếm nhiều hơn gấp 3 lần. Ngay cả những người than phiền trên YouTube cũng thú nhận là họ phải tìm xem video này vì quá tò mò.

Một cái hay của campaign này nữa chính là ở chỗ các đoạn quảng cáo của Shopee rất ngắn, chỉ vỏn vẹn 30 giây, nên dù có “ám ảnh” thì cũng không gây quá nhiều phiền nhiễu cho người xem.

Sử dụng người nổi tiếng

Shopee đã rất nhanh nhạy trong việc mời Bảo Anh và Tiến Dũng cho video clip của mình tại Việt Nam.

Đây là hai nhân vật influencer tương đối “sạch”, không có scandal nhưng lại rất nổi bật vào thời điểm hiện tại: Tiến Dũng với những thành công ở đội tuyển Olympic và Bảo Anh với các hit âm nhạc. Đặc biệt hơn là khác với những cái tên đã quá quen thuộc với khán giả như Sơn Tùng, Trấn Thành, Đông Nhi… Tiến Dũng và Bảo Anh tham gia đóng quảng cáo tương đối ít nên sự xuất hiện của họ trong video của Shopee sẽ gây được nhiều sự chú ý hơn.

Shopee cũng đồng thời rất biết tranh thủ các tin đồn trong cộng đồng mạng về quan hệ tình cảm của cặp đôi này để tạo câu chuyện, gây hiệu ứng lan tỏa.

Lời kết

Thành công của Shopee cũng như của Điện Máy Xanh trước đó cho thấy rõ ràng để chạy một chiến dịch viral hiệu quả, bạn không nhất thiết phải có các ý tưởng thật phức tạp, thật bay bổng mà cái quan trọng vẫn là phải có dấu ấn riêng và đúng insights người xem.

Nguồn: Brandsvietnam

Có thể bạn quan tâm:

> Pepsi mất trắng 40% thị phần tại Venezuela trong 1 ngày vì quyết định sai lầm này

> Starbuck “chơi” an toàn với các thiết kế trong mùa lễ hội 2018

> Điện máy xanh và TVC gây ám ảnh với câu hát “nổi da gà”


Starbuck “chơi” an toàn với các thiết kế trong mùa lễ hội 2018

Written by

Với tháng 10 vừa qua, Starbucks đã dành rất nhiều thời gian để đưa ra dòng sản phẩm Pumpkin Spice Latte – mỗi một loại thức uống sẽ kết hợp cùng một chiếc cốc theo mùa. Năm nay, thương hiệu này đang “chơi” một cách an toàn với các thiết kế dường như không hứng thú và kích thích phản ứng của khách hàng như một số phiên bản packaging trước đây.

Bốn chiếc cốc này có mang hơi hướng retro được lấy cảm hứng từ sự thừa kế về cà phê và các mùa. Ngoài ra nó còn thúc đẩy thái độ bảo vệ môi trường. Những người yêu cầu một trong sáu loại đồ uống trong kỳ nghỉ vào ngày 2 tháng 11 sẽ nhận được một chiếc cốc đỏ tái sử dụng miễn phí.

Mỗi năm, Starbucks và các chuỗi cửa hàng khác đều giới thiệu thiết kế cho mùa lễ hội cuối năm và các sản phẩm dành cho kỳ nghỉ đông, như cà phê Giáng sinh Blend của Starbucks. Với sự thống trị của nó, những chiếc cốc từ Starbucks thu hút sự chú ý nhất, mặc dù một số lời phàn nàn.

Ví dụ, vào năm 2015, các nhà phê bình cho rằng ly ombre đỏ không đủ không khí Giáng sinh. Những nỗ lực năm 2017 đã khuấy động tranh cãi nhỏ đã mang lại hiệu ứng tốt. Một số nhóm người rất hưởng ứng về một cặp đôi đồng tính nữ trong một TVC phim hoạt hình cùng với một nụ hôn ngọt ngào và hình ảnh một đôi nắm tay được in trên cốc. Những người khác nói rằng họ đã bị mất cảm hứng bởi những gì họ cho là hình ảnh quyền ủng hộ đồng tính.

Với kế hoạch năm nay, Starbucks đang chơi khá an toàn. Bốn chiếc cốc dùng một lần bao gồm các thiết kế: một cái màu đỏ, sọc, một màu xanh lá cây và trắng “Stargyle”, houndstooth màu đỏ trắng và holly cùng quả mọng.

Một điểm nhấn cho hình ảnh mùa đông là hình ảnh  một người phụ nữ nhận được hai Peppermint Mochas đi trên đường. Cô nhấm nháp một lần trên đường đi bộ, dường như cô cảm thấy ấm áp bởi đồ uống của mình, cô có thể đi xuống các đường lớn với chiếc áo choàng trên vai, không cần mũ hoặc găng tay, kể cả khi tuyết rơi xung quanh cô.

Starbucks đã làm việc với 72andSunny trong quảng cáo “Sip a Cup of Magic”. Một quảng cáo kết hợp giữa thương mại số và tính xã hội đến từ Big Spaceship, print-ads và quảng cáo ngoài trời đã được giảm xuống bởi phòng sáng tạo của Starbucks. Starbucks cho biết họ có kế hoạch để làm nổi bật một số nhân viên của mình trong chiến dịch, chẳng hạn như anh em nghệ sĩ baristas có một ban nhạc, cũng như một người mẹ cùng làm việc với các cô con gái tuổi teen của mình.

Starbucks đã phát hành các thiết kế cốc vào kỳ nghỉ theo các mùa hàng năm kể từ năm 1997. Các đồ uống ngày lễ trở lại vào thứ Sáu là Peppermint Mocha, Nướng trắng sô cô la Mocha, Caramel Brulee Latte, Chesnut Praline Latte, Gingerbread Latte và Egg Nog Latte.

Những người có ly màu đỏ có thể tái sử dụng có thể nhận được 50 xu giảm giá mua đồ uống vào ngày lễ sau 2 giờ chiều. Từ ngày 3 tháng 11 đến ngày 7 tháng 1 khi họ mang theo những chiếc cốc này, một cách thức của Starbucks để cố gắng thúc đẩy hoạt động kinh doanh của mình vào buổi chiều và buổi tối.

Doanh số tại các địa điểm lâu đời tại Mỹ của Starbucks chỉ tăng 1% trong quý 3, kết thúc vào ngày 1/7. Một lý do cho sự tăng trưởng chậm chạp là lượng khách giảm vào buổi chiều, đặc biệt là bắt đầu lúc 2 giờ chiều – CEO Kevin Johnson cho biết. . Starbucks đã cố gắng để giải quyết điểm yếu trong năm nay bằng cách chạy quảng cáo nhấn mạnh các cửa hàng của nó như là một điểm đến buổi chiều.

Nguồn: Advertising Age

Có thể bạn quan tâm: 

>> Đừng vội tin vào 9 điều sau khi làm Digital Marketing

>> Đừng mải chạy theo Digital mà quên mất các kênh Offline

>> Khẩu vị người Việt: Trà hay Cà phê?

Pepsi mất trắng 40% thị phần tại Venezuela trong 1 ngày vì quyết định sai lầm này

Written by

Venezuela là một trong những thị trường hiếm hoi mà Pepsi dẫn đầu với 18 nhà máy đóng chai của đối tác địa phương – Cisneros. Thế nhưng chỉ trong một cuối tuần năm 1996, toàn bộ hệ thống phân phối khắp Venezuela đã bất ngờ “thay áo” của “kẻ thù kinh điển” với Pepsi.

Đối tác cũ có… đối tác mới

Cisneros là tập đoàn sở hữu hơn 18 nhà máy và là đối tác đóng chai quan trọng bậc nhất của Pepsi tại Venezuela. Từ khi Pepsi tiến vào thị trường Châu Mỹ này, hai tập đoàn đã hợp tác với nhau hơn 5 thập kỷ.

Vào năm 1996, Oswaldo Cisneros – chủ sở hữu tập đoàn đóng chai Cisneros bắt đầu tìm kiếm đối tác để bán lại một phần công ty do gặp nhiều vấn đề về sức khỏe.

Lúc đó, nơi đầu tiên mà Cisneros tìm đến chính là Pepsi. Tuy nhiên, Pepsi lại chẳng mấy mặn mà với đề xuất này và chỉ mong muốn mua lại 15% cổ phần, trong khi Cisneros muốn bán ít nhất 50% công ty để có thêm nhân lực hỗ trợ vận hành.

Gustavo Cisneros, em họ của Oswaldo Cisneros, còn kể lại rằng Pepsi không những không hứng thú với đề xuất trên mà còn ra giá rất thấp cho 15% cổ phần, anh em nhà Cisneros hoàn toàn bất ngờ trước thái độ của Pepsi với đối tác lâu năm của mình.

Và Coca-Cola ngay lập tức xuất hiện để trở thành một “cứu tinh”, đối thủ này chấp nhận rủi ro lớn để đầu tư vào Cisneros, thậm chí Chủ tịch tập đoàn Coca-Cola còn đích thân bay tới Venezuela để thương thảo trực tiếp với chủ nhà máy trên.

Kết quả là Cisneros nhanh chóng chấp nhận bán 50% cổ phần với giá 300 triệu USD cho Coca-Cola. “Kẻ thù không đội trời chung” của Pepsi còn cam kết đầu tư thêm 300 triệu USD trong vòng 5 năm tiếp theo, với hy vọng biến Cisneros thành tập đoàn nước giải khát lớn nhất khu vực.

Đòn trả thù kinh hoàng

Với số tiền đầu tư khổng lồ của Coca-Cola, Cisneros mạnh dạn đơn phương chấm dứt hợp đồng có giá trị tới năm 2003 với Pepsi. Không những thế, các công ty con trực thuộc tập đoàn Cisneros, bao gồm một chuỗi siêu thị và một đài truyền hình cũng “song kiếm hợp bích” nhanh chóng tẩy chay Pepsi trên toàn thị trường.

“Mọi chuyên gia trong ngành giải khát đều có một thắc mắc: Tại sao Pepsi lại để chuyện này xảy ra” – Theo Jesse Meyers, chủ sở hữu Beverage Digest.

“Trong hơn 35 năm cạnh tranh, chưa bao giờ tôi thấy trường hợp một nhà máy đóng chai Pepsi trở thành nhà máy Coca-Cola một cách chóng vánh như thế. Đặc biệt là khi Venezuela là một trong những thị trường thành công nhất trên thế giới của Pepsi. Việc Coca-Cola có thể thực hiện được cuộc “đảo chính” ngay giữa ban ngày là một chuyện không ai có thể ngờ trước.”

Sau khi ký hợp đồng hợp tác mới với Coca-Cola vào thứ năm ngày 22/8/1996, chủ tịch tập đoàn Cisneros yêu cầu nhân viên tháo ngay logo Pepsi và thay bằng logo Coca-Cola ngay thứ 6, đến sáng thứ 7, những chuyến xe giao hàng màu xanh của Pepsi đã “thay áo” đỏ rực và chính thức đưa những thùng Coca-Cola khắp mạng phân phối cũ.

18 nhà máy đóng chai, 4.000 xe chở hàng và hàng chục ngàn điểm phân phối ngay lập tức “rực đỏ” chỉ trong một cuối tuần. Đến thứ hai tuần sau, người dân Venezuela gần như không thể tìm mua Pepsi ở bất kì quán ăn hay tiệm tạp hóa nào nữa.

Thị phần của Coca-Cola tăng vọt từ 10% lên tận 50%. Đối với đối thủ Pepsi, do không còn nhà máy đóng chai nào, gần 40% thị phần của công ty này gần như không cánh mà bay chỉ trong vài ngày ngắn ngủi.

Sự hối hận muộn màng

“Đồ phản bội!”, Keith Hughes – phát ngôn viên của Pepsi trả lời báo chí ngay sau bản hợp đồng định mệnh được ký kết. Keith còn thông báo rằng Pepsi sẽ kiện cả Cisneros và Coca-Cola ra tòa vì hai “đối thủ” kia rõ ràng đã vi phạm các điều khoản hợp đồng.

Pepsi còn nhấn mạnh rằng liên minh Coca-Cola và Cisneros đang lạm dụng vị thế độc quyền để thao túng thị trường. Nhưng Coca-Cola cũng cao tay không kém, tập đoàn này chủ động đề xuất bán lại 6 trong tổng số 18 nhà máy đóng chai cho Pepsi, nhưng với một mức giá… trên trời.

Pepsi hoàn toàn không đủ tài chính cũng như chả còn mặt mũi nào để chấp nhận đề xuất trên. Ngay lập tức, Coca-Cola sử dụng hành động trên làm minh chứng cho sự “kém chủ động” của Pepsi để tạo dựng cạnh tranh trên thị trường và bác bỏ hoàn toàn ý định độc chiếm mà đối thủ đang cáo buộc.

Mãi đến cuối năm đó, Coca-Cola và Cisneros mới được tòa án xử phạt 1,9 triệu USD, nhưng hai tập đoàn này vẫn được giữ nguyên các hợp đồng và hoạt động hiện có, một con số quá nhỏ so với doanh thu mà cặp đôi này thu lại được trong khoảng thời gian đó.

Mãi sau này Pepsi mới ký được hợp đồng trị giá 380 triệu đô la với Empresas Polar S.A, một công ty khác trong khu vực để sản xuất và phân phối Pepsi, nhưng họ đã chẳng thể nào lấy lại vị thế trước kia của mình.

Và như thế, thứ Năm, ngày 22/8/1996 được đánh giá là ngày đau đớn nhất cho những người điều hành Pepsi trên khắp thế giới.

Nguồn: BrandsVietnam

Có thể bạn quan tâm: 

>> Đừng vội tin vào 9 điều sau khi làm Digital Marketing

>> Đừng mải chạy theo Digital mà quên mất các kênh Offline

>> Khẩu vị người Việt: Trà hay Cà phê?

Chiến lược Marketing giúp Apple trở thành bá chủ “thung lũng Silicon”

Written by

Apple là một thương hiệu đẳng cấp, được định giá cao và thuyết phục người dùng bỏ ra nhiều tiền để trải nghiệm sản phẩm của họ. Thế nhưng, khác với những mặt hàng đắt đỏ kén người mua, sức hút của Apple lại thể hiện rất rõ nét mỗi khi thương hiệu này tung ra sản phẩm mới.

Ngược về quá khứ cách đây hơn hai thập kỷ, có lẽ không nhiều người biết rằng Apple đã suýt phá sản và có thời gian khủng hoảng thất bại. Steve Jobs rời Apple vào năm 1985, ông đã bị đuổi tại chính nơi mà ông tạo ra, những khoảng 10 năm sau ông đã trở lại và mọi chuyện bắt đầu chính từ đây.

Sau khi ông trở lại, ông chính là người đặt nền móng cho sự phát triển và hình thành ý tưởng tạo nên mẫu điện thoại mà bây giờ phải đến hơn 90% số người nhận diện được thương hiệu của Apple. Sự ra mắt của Iphone 2G vào năm 2007 đã đánh dấu bước ngoặt, Apple đã cho thế giới thấy định nghĩa hoàn toàn khác về điện thoại là như thế nào và trải nghiệm màn hình cảm ứng hoàn hảo ra sao. Sau đó là sự phát triển thần kỳ với sự ra mắt của các dòng điện thoại như:

• Năm 2008: Iphone 3G

• 2009: Iphone 3GS

• 2010: Iphone 4G

• 2011: Iphone 4GS

• 2012: Iphone 5

• 2013: Iphone 5S/5C

• 2014: Iphone 6/6 Plus

• 2015: Iphone 6S / 6S Plus

• 2016: Iphone SE / 7/7 khác

• 2017: Iphone 8/8 plus / X

 

photo-1530319067432-f2a729c03db5

 

Gần đây nhất là màn chào sân của Iphone XS vào ngày 12/9 với sự theo dõi của hàng triệu fan hâm mộ toàn thế giới hướng về hội trường “Steve Jobs threater”. Apple nổi danh với một chiến lược Marketing chạm đến sự hoàn hảo và để có được chỗ đứng như bây giờ thì những bước đi của Apple thực sự khiến các Marketer phải khâm phục. Hãng được coi là hoàn hảo trong mọi quy trình và chiến lược Marketing của Apple không phải là ngoại lệ, hãy cùng xem những gì hãng đã làm để tạo ra một thương hiệu hùng mạnh như bây giờ.

Thành công của Apple là quảng cáo dựa vào chính trải nghiệm khách hàng

Trên thị trường hiện nay thật dễ dàng nhìn thấy nhiều doanh nghiệp sử dụng quảng cáo PPC với Google hay Facebook. Không thể phủ nhận những hình thức này đem lại hiệu quả cực kỳ cao cho các hãng, nhưng đối với Apple thì không phải lúc nào ông lớn cũng sử dụng phương thức này. Trên thực tế, hai chiến lược Marketing trong chiến lược của Apple đối với sản phẩm Iphone và các sản phẩm khác là: Vị trí sản phẩm và tiếng vang được tạo ra từ phản ứng tích cực của khách hàng.

Cái hay trong những chiến lược Marketing của Apple chính là dùng chính những trải nghiệm của những người có ảnh hưởng để cho khách hàng thấy sản phẩm của họ hoàn hảo đến mức nào. Không giống như những thương hiệu khác khi sử dụng người nổi tiếng một cách chỉ để quảng cáo. Nhưng với Apple thì khác, cách xây dựng thương hiệu của Apple hướng đến những thứ tự nhiên nhất khi thuyết phục những người ảnh hưởng rằng sản phẩm của họ đem đến trải nghiệm tuyệt vời và những chia sẻ của họ trên mạng xã hội thu hút những người theo dõi, điều này sẽ giúp Apple thu lại được lượng khách hàng tiềm năng lớn từ sự chứng thực của những người nổi tiếng.

 

photo-1531901783755-825e82c0d762

 

Hơn thế nữa, phương tiện truyền thông của Apple – “Word of Mouth” dù là phương thức truyền thống nhưng nó lại được Apple xử lý hết sức thành công. Những trải nghiệm miễn phí cho người dùng cũng được hãng chú tâm đến, vì theo như nghiên cứu từ Nielsen thì niềm tin người tiêu dùng trong Marketing cho thấy:

• 92% người tiêu dùng tin tưởng những lời khuyên từ bạn bè, người thân trong gia đình

• 70% người tiêu dùng tin tưởng từ những người tiêu dùng khác đã sử dụng qua sản phẩm

Những trải nghiệm miễn phí cho người dùng cũng được Apple chú tâm đến

Chính bởi lý do này mà đem đến cho khách hàng trải nghiệm sản phẩm trước khi mua, hãng đã chứng minh rằng sản phẩm của hãng là tốt nhất và đủ để thỏa mãn khách hàng. Những chân lý về “chủ nghĩa hoàn hảo” được Apple đưa vào chiến lược kinh doanh quốc tế của Apple một cách hoàn hảo nhất.

Đơn giản là trên hết

Tại sao lại đơn giản là trên hết? Apple mang tới cho khách hàng những trải nghiệm tuyệt vời, không chỉ những sản phẩm của họ là tuyệt nhất mà chính những thứ xung quanh họ cũng quan tâm đến vấn đề trải nghiệm của khách hàng. Apple giúp người dùng hiểu được họ không thích những thứ phức tạp và luôn hướng tới sự tối giản. Trong Content Marketing của Apple thì hãng đưa những từ ngữ gần gũi với khách hàng, hạn chế tối đa những từ ngữ chuyên ngành công nghệ cao, bởi vì họ hiểu rằng đối tượng khách hàng của Apple nhắm tới là những người “không biết rõ về công nghệ”.

photo-1534802046520-4f27db7f3ae5

 

Một điểm nữa khiến những chiến lược Marketing của Apple khác biệt và gây tiếng vang chính là cách truyền đạt thông tin, thông số kỹ thuật và tính năng. Thay vào đó hãng nhấn mạnh rằng “sản phẩm của họ có thể thay đổi cuộc sống của bạn, và làm nó tốt hơn”. Định vị thương hiệu của Apple còn đi liền với triết lý “Đơn giản là trên hết” thông qua website và blog của họ, họ biết cách dẫn khách hàng vào trang web của họ một cách dễ nhất. Theo nghiên cứu chỉ 79% người dùng web quét những thông tin đầu trang và thông tin họ cần, nhìn thấy điều đó, thay vì làm web “hoa mỹ” thì Apple lại hướng đến sự tối giản đem những thông tin tốt nhất cho khách hàng.

Hoàn hảo trong mọi phương thức bán hàng

Trải nghiệm tại cửa hàng bán lẻ của Apple thực sự là “đỉnh của đỉnh”. Hãng không cần yếu tố PR rầm rộ, không cần những lời phô trường mà chỉ tập chung vào yếu tố thực tế, những gì khách hàng trải nghiệm được là chìa khóa để dẫn họ đến thành công. Theo những nghiên cứu thị trường của Nielsen thì 70% những khách bước ra từ Apple store đều mua một thứ gì đó trong cửa hàng. Chính bởi chiến lược Marketing tự nhiên ưu tiên trải nghiệm người dùng đã khiến Apple không cần tập trung quá vào quảng cáo mà vẫn thu hút về lượng khách hàng đông đảo và lợi nhuận cực kỳ ấn tượng.

photo-1503852460961-aa7ffdd3d64d

 

Bạn có thể lên Youtube và tìm kiếm những video về những nội dung mở hộp những điện thoại Iphone hay các dòng sản phẩm khác như Mac, Ipod, Apple Watch. Apple tập cung ngay từ việc thiết kể vỏ hộp, sản phẩm là một thứ bên trong, những việc tạo ấn tượng ngay từ bên ngoài là điều mà không phải ai cũng nghĩ ra và làm được. Theo nghiên cứu tâm lý của các chuyên gia thì những thứ đẹp và gây ấn tượng với khách hàng sẽ khiến họ muốn chia sẻ hơn với mọi người. Apple đã hiểu được điều đó và tạo nên sự khác biệt cho mình, họ có thể dựa vào điều đó gia tăng được độ phủ, chính những video đó khiến in sâu vào tâm lý của khách hàng rằng Iphone là sản phẩm tốt là sản phẩm đáng để mua.

Đánh vào cảm xúc của khách hàng

Kết nối cảm xúc là chìa khóa cho chiến lược Marketing của Apple, có lẽ những câu chuyện mà Apple đưa đến cho khách hàng là những video có độ viral và lan tỏa cực kỳ cao. Hãy nghĩ lại quảng cáo đầu tiên cho Ipad ra đời vào năm 2010, Apple đã làm bối cảnh những người ở trong phòng khách, họ không nói về kích thước màn hình hay tốc độ mà đơn giản chỉ là họ yêu Ipad của mình.

photo-1532077251662-fbe8184aa794

 

Những nghiên cứu nổi tiếng của tiến sĩ Jonah Berger cho thấy nội dung gợi lên những cảm xúc kích thích cao và có khả năng lan truyền hơn bất cứ hình thức nào. Chính vì vậy Apple đã biến cảm xúc ấy thành “paint point” để đánh vào khách hàng tạo ra những chiến dịch mang đầy cảm xúc, những quảng cáo có tốc độ lan truyền trên social media rất cao. Để gợi lên và xây dựng cảm xúc của khách hàng theo cách của Apple, hãy sử dụng ngôn ngữ cảm xúc của riêng của bạn, nơi nó có ý nghĩa để làm như vậy. Hãy chắc chắn rằng nó chảy tự nhiên. Một cách để làm điều này là sử dụng các từ kích hoạt cảm xúc để phát triển chiến dịch Marketing của bạn.

Không đối đầu về giá cả trên thị trường là chiến lược giá của Iphone nói riêng và của Apple nói chung

Apple hiểu rằng cạnh tranh về giá có thể làm sụp đổ hoàn toàn công việc kinh doanh của bạn và Apple biết rằng giảm giá và cạnh tranh sẽ dẫn tới một cuộc đua vào ngõ cụt. Do đó, chiến lược cạnh tranh của Apple tập trung vào USP của họ (đề xuất giá trị độc nhất) đó chính là thiết kế đẹp mắt mà bạn có thể nhìn thấy ngay từ khi mở hộp.

Apple không để ý tới sự cạnh tranh, trong khi những hàng khác tập trung vào một tính năng thế mạnh duy nhất thì Apple tập trung vào toàn bộ sản phẩm và thực tế đã chứng minh điều đó.

photo-1512429234305-12fe5b0b0f07

 

Chiến lược Marketing của Apple tại mọi thời điểm có thể là đặt giá cao hơn những sản phẩm khác trên thị trường. Nhưng đã nói ở trên, Apple luôn biết cách làm thỏa mãn khách hàng bằng sản phẩm của họ, chính vì thế Apple đã tạo ra cho các Marketer một bài học rằng bạn có thể thực hiện chiến lược này ở bất kể thị trường bạn có kể cả thị trường ngách, và bất cứ quy mô của bạn là gì thì hãy luôn nhớ điều chỉnh giá cao hơn.

Sự ra mắt của Apple Iphone XS: Liệu Apple vẫn theo “chủ nghĩa hoàn hảo” trong Marketing?

Có thể nói, sự kiện ra mắt 3 dòng sản phẩm mới vừa qua của hãng công nghệ “táo khuyết” vẫn gây bão dư luận vẫn đưa ra được những cú hích trên thị trường. Lượng người quan tâm đến sự kiện của Apple vẫn là vô cùng lớn. Ý kiến sau sự kiện cho thấy rằng Apple không thay đổi thiết kế, không có sự đột phá giống như quá khứ mà hãng đã làm.

 

photo-1516163173352-d1c4d006f9ac

 

Thế nhưng hãy nhìn vào thực tại, hãy nhớ về quá khứ khi Apple đã thay đổi định nghĩa “Màn hình cảm ứng” là gì, hay “Touch ID” đã cho thấy bảo mật là thế nào. Với một thị trường bão hòa như hiện nay sự sáng tạo là điều rất khó và đôi khi cố gắng sáng tạo thì sẽ phản tác dụng. Chính vì vậy Apple vẫn giữ nguyên quan điểm trong chiến lược Marketing của Apple về việc nâng cao trải nghiệm của khách hàng là trên hết để cho khách hàng thấy trải nghiệm tốt nhất là như thế nào. Chính bởi chiến lược Marketing không quảng cáo rầm rộ, mà ưu tiên vào sự “hoàn hảo” thì qua đợt ra mắt Iphone XS vừa rồi hãng đã cho thấy những toan tính của mình. Ai bảo hãng đã hết thời thì cứ nhìn số lượng người tìm kiếm thông tin về Iphone XS (772 triệu lượt tìm kiếm), thì có thể thấy chiến lược Marketing của hãng vẫn hoàn hảo như hồi nó xưa.

Kết luận

Apple đã cho cả thế giới thấy “chủ nghĩa hoàn hảo” là như thế nào thông qua những sản phẩm mà hãng tạo ra. Sản phẩm Iphone XS vừa qua đã chứng tỏ cho câu nói “Đẳng cấp là mãi mãi”. Chiến lược Marketing của Apple hướng đến mục tiêu khách hàng là trên hết, và dù không quảng cáo rầm rộ thì hãng những con số về số lượng bán ra và lợi nhuận vẫn ở con số ấn tượng. Apple vẫn là hãng công nghệ hàng đầu trên thế giới bởi chiến lược Marketing khôn ngoan và “chạm” tới khách hàng.

Nguồn: Happy.live

Có thể bạn quan tâm:

>> Bài học kinh doanh từ thất bại của Carrefour – doanh nghiệp bán lẻ hàng đầu tại Pháp

>> Cách CEO Starbucks xử lý khi thương hiệu bị tẩy chay

>> Chặng đường từ món kem làm tại nhà tới thương hiệu trị giá trăm triệu USD của Halo Top


Business Model Canvas – Mô hình quyền lực cho các CMO

Written by

Bài viết này sẽ giới thiệu về Business Model Canvas (BMC), một công cụ xây dựng mô hình kinh doanh được thiết kế bởi tiến sĩ Alexander Osterwalder. BMC đã trở thành một công cụ mạnh mẽ giúp cho cả doanh nghiệp startup lẫn doanh nghiệp lâu năm hình thành những chiến lược thông minh, cụ thể và thành công.

null

Giới thiệu về Business Model Canvas (BMC)

Business model canvas (BMC) là một cách thể hiện thông tin về các nhân tố đầu vào tạo nên chuỗi giá trị của một doanh nghiệp dưới dạng hình ảnh, được sử dụng rộng rộng rãi trong quá trình xây dựng, hoạch định một doanh nghiệp mới. Ngoài ra, thì nó cũng được sử dụng để phân tích tình hình kinh doanh hiện tại của công ty.

Business model canvas (BMC) được phát triển bởi chuyên gia quản trị người Thuỵ Điển Alexander Osterwalder. Ông đã sử dụng 9 nhóm nhân tố chính cấu thành nên Business model canvas, mà ông hàm ý chúng chính là 9 trụ cột tạo nên tổ chức của một công ty, gồm có: Đối tác chính, Hoạt động kinh doanh chính, Nguồn lực chính, Giá trị thặng dư, Quan hệ khách hàng, Kênh thông tin và Phân phối, Phân khúc khách hàng, Cơ cấu chi phí và Dòng doanh thu.

Business Model Canvas (BMC) – Một công cụ trực quan

Hiệu suất kinh doanh của một công ty có thể dễ dàng được cải thiện bằng cách áp dụng Business model canvas. Chỉ qua một cái nhìn, tất cả các khía cạnh liên quan đều được trình bày rõ ràng nhờ các mô phỏng trưc quan. Bằng cách nhìn vào sự phát triển của từng thành tố, một doanh nghiệp có thể tinh chỉnh các giá trị mà mình cung cấp cho khách hàng và cải thiện các chiến lược của mình một cách có tổ chức. Trong khi đó, nếu sử dụng công cụ này để ra một doanh nghiệp mới thì các nhà chủ doanh nghiệp có thể hoạch định ngay từ đầu một loạt các quyết định chiến lược quan trọng thông qua việc sử dụng công cụ đó.

null

1. Đối tác chính

Dù với doanh nghiệp startup hay doanh nghiệp đã thành lập lâu năm thì việc tạo dựng liên minh với các đối tác là điều rất quan trọng. Chẳng hạn như khi các công ty phải liên minh với nhau để chiến đấu với đối thủ cạnh tranh và kết hợp kiến thức và chuyên môn với nhau. Doanh nghiệp có thể thu về các thông tin quan trọng thông qua chính những sự liên minh này, bằng việc xác định ngay từ đầu những đối tác nào sẽ đem lại giá trị và những mối quan hệ đó có giá trị như thế nào.

2. Các hoạt động kinh doanh chính

Bằng việc nhận biết đúng về các hoạt động nòng cốt của công ty, chúng ta sẽ hiểu đúng các giá trị thặng dư mà doanh nghiệp có thể đưa ra thị trường. Điều này không chỉ nói về sản xuất ra những sản phẩm như thế nào, mà nó còn đề cập đến cái cách mà doanh nghiệp tiếp cận với vấn đề giải quyết vấn đề của thị trường, cách kết nối (networking) ra sao, chất lượng của sản phẩm đầu ra hoặc dịch vụ đầu ra của doanh nghiệp là gì. Khi tổ chức xác định được giá trị gia tăng mà mình cung cấp cho khách hàng là gì, họ có thể dễ dàng phát triển mối quan hệ tốt đẹp với các khách hàng hiện tại, do đó, điều này có thể hữu ích trong việc thu hút khách hàng mới. Đây cũng được coi là hành động giúp doanh nghiệp tránh các tổn thất gây ra từ việc phải cạnh tranh với đối thủ dễ dàng hơn.

3. Các nguồn lực chính

Các nguồn lực đầu vào chính là trái tim, nòng cốt của việc sản phẩm đầu ra như thế nào. Các nguồn lực này có thể được phân loại thành: nguồn lực vật chất, trí tuệ, tài chính và nhân lực. Nguồn lực vật chất có thể bao gồm các tài sản như các trang thiết bị phục vụ kinh doanh. Nguồn lực trí tuệ bao gồm từ kiến thức, thương hiệu đến các bằng sáng chế. Các nguồn lực tài chính liên quan đến dòng vốn, nguồn thu nhập và nguồn nhân lực bao gồm các khía cạnh về nhân sự.

4. Giá trị cung cấp cho khách hàng

Xác nhận giá trị nghĩa là lý do cốt lõi để công ty tồn tại, giá trị này chính là nhằm đáp ứng nhu cầu từ phía khách hàng. Doanh nghiệp này khác biệt so với đối thủ cùng ngành như thế nào? Những khác biệt này một mặt tập trung vào những yếu tố có thể định lượng được như giá, dịch vụ, tốc độ và điều kiện giao hàng. Mặt khác, nó cũng tập trung vào những yếu tố có thể định tính bao gồm thiết kế, trạng thái thương hiệu và trải nghiệm cũng như sự hài lòng của khách hàng.

5. Quan hệ khách hàng

Tương tác với khách hàng là điều rất cần thiết. Cơ sở dữ liệu càng rộng thì doanh nghiệp càng cần chú trọng việc phân chia khách hàng thành các nhóm mục tiêu khác nhau. Mỗi nhóm khách hàng có một nhu cầu khác nhau. Bằng cách dự đoán các nhu cầu của khách hàng, doanh nghiệp sẽ đầu tư vào các nhóm khách hàng khác nhau. Một dịch vụ tốt sẽ đảm bảo cho quan hệ khách hàng vừa bền vững mà lại tốt đẹp và có thể duy trì trong tương lai.

6. Các kênh thông tin và phân phối

Một công ty phải giải quyết các vấn đề về truyền thông, phân phối và các kênh bán hàng. Điều này không chỉ là về việc liên lạc với khách hàng và cách thức mà công ty giao tiếp với khách hàng của họ. Các địa điểm mua sắm và phân phối các sản phẩm và dịch vụ cung cấp là yếu tố quyết định. Các kênh đến với khách hàng theo năm giai đoạn khác nhau: nhận thức về sản phẩm, mua hàng, giao hàng, đánh giá và sự hài lòng, cuối cùng là dịch vụ hậu mãi. Để tận dụng tốt các kênh và tiếp cận nhiều khách hàng nhất có thể, các kênh của doanh nghiệp nên được kết hợp giữa các kênh offline (cửa hàng) và trực tuyến (web bán hàng).

7. Phân khúc khách hàng

Vì một tổ chức phải phục vụ nhiều nhóm khách hàng vậy nên các doanh nghiệp nên chia họ thành các phân khúc khác nhau. Bằng cách xác định các nhu cầu và yêu cầu cụ thể của từng nhóm khách hàng và giá trị mà họ gắn kết, mà các sản phẩm và dịch vụ có thể được “may đo cắt thửa” để phục vụ tốt hơn cho các nhu cầu này. Điều này sẽ khiến khách hàng hài lòng hơn, từ đó quay lại củng cố giá trị thặng dư cho khách hàng.

8. Cơ cấu chi phí

Khi có một cái nhìn sâu sắc vào cơ cấu chi phí, doanh nghiệp sẽ biết doanh thu tối thiểu phải có để tạo ra lợi nhuận là bao nhiều. Cơ cấu chi phí xét đến khả năng mở rộng quy mô, định phí (constant cost) và biến phí (variable cost) cũng như các lợi thế về lợi nhuận. Nếu thông qua cơ cấu chi phí, doanh nghiệp thấy rằng mình đang đầu tư nhiều hơn so với mức doanh thu mà nó đang tự tạo ra, thì nghiễm nhiên là chủ doanh nghiệp sẽ nhìn thấy là họ cần phải thay đổi về kết cấu của chi phí. Thường thì nếu chuyện này xảy ra thì công ty sẽ quay lại yếu tố nguồn lực để cơ cấu lại và giảm thiểu một loạt các yếu tố trong đó nhằm điều chỉnh lại dòng thu và dòng chi.

9. Dòng doanh thu

Ngoài cơ cấu chi phí, dòng doanh thu sẽ đem lại một cái nhìn rõ ràng vào các mô hình doanh thu của doanh nghiệp. Ví dụ, công ty cần có bao nhiêu khách hàng trên cơ sở hàng năm để tạo ra lợi nhuận? Doanh nghiệp cần doanh thu bao nhiêu để hoà vốn? Dòng doanh thu là công cụ điều chỉnh chi phí. Ngoài doanh thu từ việc bán hàng hoá, lệ phí đăng ký, thu nhập cho thuê, cấp giấy phép, tài trợ và quảng cáo cũng có thể là một nguồn thu.

Nguồn: Saga

Có thể bạn quan tâm: 

>> Chiến lược Marketing giúp Apple chưa bao giờ hết hot – Vị thế bá chủ “thung lũng Silicon”

>> 6 tố chất cần có của một CMO hiện đại

>> ABM – Phương pháp marketing tập trung vào doanh số


Điện máy xanh và TVC gây ám ảnh với câu hát “nổi da gà”

Written by

“Bạn đưa ra một bài hát thu tiếng của bạn. Và khi bạn thuyết trình, bạn bật lên, Trang và bạn Marketing Director của ĐMX nghe xong một cái là nổi da gà luôn. Nghĩ cái này chắc OK. Mình nghe mình nổi da gà , hy vọng khách hàng nghe cũng nổi da gà giống mình”.

Từ truyền thống “marketing tiết kiệm” của tập đoàn TGDĐ

Vai trò marketing trong cả 3 chuỗi bán lẻ thuộc tập đoàn Thế Giới Di Động: Thế Giới Di Động (TGDĐ), Điện Máy Xanh (ĐMX) và Bách Hóa Xanh vốn rất nhỏ bé.

Cụ thể, trong những ngày đầu mở rộng liên tục của chuỗi TGDĐ, nhiệm vụ của phòng marketing lúc ấy chỉ là “truyền thông khai trương shop mới”. Hơn nữa là một nhà bán lẻ, các hoạt động marketing của chuỗi bán điện thoại này ngay cả hiện giờ, đều tập trung nhiều vào marketing cho hãng có hàng hóa hiện diện trong cửa hàng.

Tại sự kiện “Marketing giỏi phải kiếm được tiền” do Viện Tiếp thị & Kinh doanh Ứng dụng – Sage Academy tổ chức tuần qua, bà Lê Thảo Trang – Giám đốc Marketing TGDĐ còn tiết lộ, trong tập đoàn có 2 khối được “cưng chiều” nhất là khối mua hàng và bán hàng, còn các phòng ban khác – trong đó có phòng marketing – chỉ như “ô sin” hỗ trợ, vì thế nên ngân sách rất tiết kiệm.

Marketing cho chuỗi Điện Máy Xanh cũng không nằm ngoài tôn chỉ “thắt lưng buộc bụng” đó với các hoạt động đơn giản. Ban đầu tăng tốc mở chuỗi, phòng marketing chỉ hỗ trợ cho việc “mở rộng, mở rộng thật nhiều”, theo lời chị Trang, sau đó thì quảng bá cho các hãng điện máy.

Nhưng khác với chuỗi đầu tiên của tập đoàn là TGDĐ, vốn đã có thương hiệu đủ lớn trong đầu khách hàng và “không phải bỏ tiền làm thương hiệu thêm”, với Điện Máy Xanh, vào năm 2016 lúc chuỗi này đã đạt đến một độ phủ nhất định (khắp 63 tỉnh thành), ông Nguyễn Đức Tài – Chủ tịch HĐQT – liền nghĩ đến việc “bung mạnh” thương hiệu.

Bà Trang kể, vào năm này, team marketing đứng trước yêu cầu của Ban Giám Đốc: Điện máy Xanh cần một sự khẳng định mình với những thương hiệu khác đã có tiếng trên thị trường.

Bà nhớ lại: “Thời điểm đó anh Tài mới kêu vào, nói là anh đồng ý chi tiền, nhưng anh muốn 100% thị trường ai cũng biết đến Điện Máy Xanh”.

Tức brand awareness (độ nhận diện thương hiệu) đạt 100%, tức là 100% đối tượng mục tiêu biết đến ĐMX sau chiến dịch. Đó là một chỉ tiêu oái ăm đối với team marketing trước giờ chỉ chuyên đi… khai trương shop và quảng bá cho hàng hóa của hãng.

“Nghe đến 100% brand awareness mình thấy ‘xỉu’ luôn, nghĩ giờ làm cái gì giờ, lâu nay làm marketing bán lẻ, không làm brand nữa, giờ quay lại nói thật không biết làm cái gì hết”, Giám đốc Marketing TGDĐ kể lại.

“Triệu hồi” nhiều agency danh tiếng nhưng rồi bị chinh phục bởi câu hát “nổi da gà” của 1 freelancer

Sau quyết định của ông Tài, bà Trang liên hệ với rất nhiều agency (công ty quảng cáo truyền thông).

“Gọi bên này bên kia. Rất nhiều công ty lớn đồng ý ngồi xuống, nhưng mà ngồi xuống cái là bảo, phải đưa đây tiền mới làm nha. Cái mình nghĩ: Chết rồi, chắc anh Tài hổng chịu”, bà Trang hài hước kể lại.

Băn khoăn là vậy nhưng phòng marketing cũng chịu nghe các agency đó tư vấn bài bản. “Họ phân tích rất kỹ, họ nói về chiến lược rất hay luôn. Nhưng mà tụi mình cũng chưa cảm thấy ‘đã’ nữa”, bà nói.

Lúc đó, được một bên quen thân giới thiệu, Trang móc nối với 1 freelancer tên Châu Chấn Quyền – người lúc ấy vừa rời agency và bước vào con đường freelance hoàn toàn. Quyền liền tham gia đấu thầu ý tưởng cho dự án này.

“Bạn đấy cũng vất vả”, bà Trang kể lại, “Bạn làm một vài ý tưởng, thuyết trình qua lại 2 – 3 lần luôn. Thuyết trình với sếp mà sếp không chịu”.

Đồng thời lúc đó, team marketing cũng quyết định là chiến dịch sẽ không nói nhiều về giá trị mà chuỗi mang lại cho khách hàng. “Mình chỉ nói đơn giản là ĐMX bán cái gì. Chỉ cần nhớ là ĐMX bán A B C D, không cố gắng nói có giá trị – giá rẻ hay phục vụ tốt – gì cả”, bà Lê Thảo Trang kể.

Châu Chấn Quyền là người hiểu được điều đó. Sau này anh có chia sẻ trên Facebook về yêu cầu cực đơn giản lúc ấy của team marketing của Điện Máy Xanh: “Tăng nhận diện thương hiệu, và chỉ tăng nhận diện thương hiệu. Mục tiêu duy nhất của họ là cho người dùng biết ‘Điện Máy Xanh bán đồ điện máy’. Đó là một cái brief (tạm dịch: đề bài) cực kì chịu chơi. Vì đó giờ làm quảng cáo chỉ gặp khách hàng muốn ‘nhét’ thêm thông tin lợi ích sản phẩm vào thôi”.

Thế là những câu hát: “Bạn muốn mua ti vi, đến Điện Máy Xanh. Bạn muốn mua tủ lạnh, đến Điện Máy Xanh. Bạn muốn mua máy giặt, đến Điện Máy xanh. Máy lạnh máy giặt, đến Điện Máy Xanh” ra đời.  4 món hàng được nhắc đến trong câu hát là cụ thể hóa của từ “điện máy”, nhằm giúp từ “điện máy” bớt mơ hồ chung chung trong tâm trí người tiêu dùng.

Không dừng lại ở đó, người freelancer này còn có cách thuyết trình rất độc đáo: “Bạn đưa ra một bài hát thu tiếng của bạn. Và khi bạn thuyết trình, bạn bật lên, Trang và bạn Marketing Director của Điện máy Xanh nghe xong một cái là nổi da gà luôn.

Nghĩ cái này chắc OK á. Mình nghe mình nổi da gà, hy vọng khách hàng nghe cũng nổi da gà giống mình”, bà Trang chia sẻ.

Sau đó, Lê Thảo Trang đem ý tưởng đấy, kèm theo chừng 7 – 8 thuyết trình của các agency lớn khác để xin ý kiến ở đại hội đồng cổ đông của tập đoàn. Ý tưởng của Châu Chấn Quyền có tỷ lệ bầu chọn áp đảo.

“Khi mà bật cái này lên, tự nhiên mấy idea kia không có bài hát, bật cái này lên cái: ‘Bạn muốn mua ti vi, đến Điện máy Xanh’. Cả khán phòng đó mọi người lắng nghe xong, mình cảm giác ai cũng nổi da gà luôn. Xong mình ngừng hỏi, mọi người chọn cái nào, thế là mọi người chọn cái này, giơ tay hết luôn. Rồi quyết định làm ý tưởng này thôi”, bà Trang kể.

Đoạn video quảng cáo branding đầu tiên và thành công nhất trong lịch sử của Điện máy Xanh đã ra đời như vậy. Từ tháng 11/2016, TVC được phát sóng với tần xuất dày đặc trên truyền hình. Trong đoạn video, diễn viên mặc đồ bó sát từ đầu đến chân “xanh lè xanh lét” với môi vàng – màu branding của TGDĐ, cùng các mô hình TV, tủ lạnh, máy lạnh, máy giặt nhảy múa trên khung nền xanh. Cụm từ “Đến Điện Máy Xanh” được lặp đi lặp lại đến 5 lần trong 30s rất bắt tai nhưng cũng vô cùng… ám ảnh.

TVC này đạt đến độ viral đáng nể và lọt top 2 trong số 10 video quảng cáo xem nhiều nhất châu Á tháng 11 năm đó. 1 tháng rưỡi sau khi TVC này ra ra mắt, Điện Máy Xanh đã vượt xa các đối thủ lớn như Nguyễn Kim, Trần Anh… trở thành thương hiệu siêu thị điện máy có thị phần thảo luận cao nhất trên social media, theo Buzzmetrics.

Sau này nói về sự thành công của sản phẩm này, cả Châu Chấn Quyền và team marketing của TGDĐ đều nhắc đến sự hợp tác ăn ý của cả hai bên. Sau TVC ám ảnh trên, TGDĐ tiếp tục hợp tác với Châu Chấn Quyền trong những sản phẩm truyền thông sau.

Nhưng tất nhiên, “tiết kiệm” vẫn là tôn chỉ của phòng marketing của tập đoàn này. Lê Thảo Trang cho biết hiện giờ phòng marketing của mình vẫn “cái gì cũng tự làm hết, từ thiết kế, PR, digital”… Thuê agency thì đa phần chỉ khi chuỗi này làm TVC hoặc sản xuất banner chuyển xuống các cửa hàng, còn lại thì hiếm lắm mới thuê ngoài.

“Marketing giỏi phải kiếm được tiền” là series đầu tiên nằm trong chuỗi chương trình mang tên “Business Talk Forum”. Sự kiện được tổ chức bởi Viện Tiếp thị & Kinh doanh Ứng dụng – Sage Academy, mang đến những kinh nghiệm từ các CEO, Founder và Giám đốc marketing trong việc tối ưu hóa hoạt động marketing, đồng thời “định nghĩa” lại giá trị cốt lõi của marketing chính là chi tiền để kiếm được nhiều tiền hơn.

Sau tọa đàm diễn ra sáng 3/11 tại TPHCM, sự kiện sẽ được tổ chức tại Hà Nội vào ngày 11/11 tới đây. CafeBiz là đơn vị truyền thông chính thức cho sự kiện này.

Nguồn: Cafebiz

Có thể bạn quan tâm:

Highlands Coffee – Chiến lược bình dân hóa của chuỗi cà phê “bá chủ”

WinRar lãi hay lỗ từ việc cho khách hàng dùng thử mãi mãi?

Nhìn lại chiến dịch marketing “Share a coke” thành công của Coca-cola


Sự ra đời của Bảo tàng kem: Tương lai của ngành bán lẻ

Written by

Dù bạn thích hay không, những bảo tàng mang tính tương tác cũng đang mang lại lợi nhuận vô cùng ấn tượng, như bảo tàng độc đáo này – một điểm đến đang thu hút khách hàng ở San Francisco, Mỹ.

Sự xuất hiện của Bảo tàng Kem ở San Francisco là một minh chứng cho trào lưu kinh doanh kết hợp mua sắm với giải trí. Không giống tên gọi “bảo tàng”, đây được xem như một điểm giải trí không giới hạn tuổi tác, khách tham quan có thể cưỡi lên một chiếc bánh sandwich kem, bơi trong bể kẹo hạt hoặc chơi bập bênh trên những muỗng kem khổng lồ. Dù chưa từng đặt chân vào, qua các kênh thông tin và mạng xã hội, người ta vẫn có thể biết khá tường tận bài trí bên trong bảo tàng và quan trọng hơn: vé vào Bảo tàng Kem luôn mau chóng bán hết sạch. Thành công này chính là nhờ sự lan tỏa của những ngôi sao nổi tiếng như David Beckham hay Beyoncé từng đến đây chụp ảnh và chia sẻ lên Instagram, cuốn theo hàng ngàn người khác cũng đến đây chỉ với mong muốn chụp ảnh và chia sẻ lên một trong những mạng xã hội lớn nhất hành tinh.

Trong số hàng loạt bảo tàng dạng này đang liên tục xuất hiện, có thể kể đến Rosé Mansion, mở cửa ngày 12-7-2018 tại New York để “tôn vinh” những thức uống màu hồng, với kiểu sắp đặt các phòng tắm đầy cánh hoa hồng và trang trí nội thất mô phỏng bọt bong bóng trong các chai sâm-banh. Hay như Bảo tàng Candytopia cũng tại New York đã tái hiện một cánh đồng kẹo như trong cổ tích, với những viên kẹo xốp Marshmallow kết hợp các loại kẹo có thể ăn được cho người tham quan thưởng thức.

Phần lớn những cuộc tranh luận nổ ra quanh những bảo tàng này chủ yếu là do cách đặt tên. Người ta đặt ra câu hỏi liệu đây có phải là tổ chức có giá trị văn hóa hay không? Hay như Jason Farago, biên tập viên của tạp chí nghệ thuật đương đại Even đã gọi Bảo tàng Kem là “ngôi nhà vui vẻ được tối ưu hóa bởi Instagram”. Trong khi đó, Manish Vora, đồng sáng lập của Bảo tàng Kem phản đối ý kiến trên, cho rằng đây chính là một hình thức bán lẻ mới và sẽ nối gót các doanh nghiệp như Warby Parker(*). Tạp chí Harvard Business Review đã đặt ra thuật ngữ “kinh tế trải nghiệm” vào cuối những năm 1990 nhưng khái niệm này chỉ mới được chấp nhận gần đây. “Cả những công ty mới xuất hiện và công ty lâu đời đều đang gia tăng tính trải nghiệm vào các hoạt động kinh doanh của họ”, Warren Teichner, một đối tác cao cấp của McKinsey & Co. cho biết. James Cook, Giám đốc nghiên cứu bán lẻ tại Công ty quản lý đầu tư JLL còn nhìn thấy cả tiềm năng lâu dài: “Giải trí sẽ là mỏ neo mới cho các doanh nghiệp. Nó sẽ giúp cho khách hàng kéo tới các trung tâm mua sắm nhiều hơn trong tương lai”.

Công thức trên đã mang lại sự thành công thần kỳ cho Bảo tàng Kem kể từ khi nó xuất hiện lần đầu vào năm 2016 tại hạt Meatpacking của khu Manhattan, New York. Tính đến nay, Bảo tàng Kem thu hút hơn 1 triệu du khách tham quan ở tất cả các chi nhánh với vé vào cửa 38 USD, đồng thời nó còn nhận được sự tài trợ của Dove Chocolate, American Express Co. và một số nhãn hàng khác.

Rosé Mansion thu hút 500-700 khách mỗi ngày với giá vé 45 USD; tại đây còn có câu lạc bộ rượu vang hoa hồng với chương trình ưu đãi được tính toán kỹ. Dream Machine, ra mắt ở Brooklyn, cho đến ngày 9-9 đã bán được 2 triệu vé kể từ khi mở cửa vào tháng 4-2018. Một chiếc vé xem phim với giá 28 USD sẽ đưa người xem vào một giấc mơ siêu thực, khiến họ cảm thấy như thể đang ở dưới đáy của một hồ bơi khổng lồ. Các mô hình kinh doanh kiểu này đang ngày càng nở rộ. Gần đây nhất, một bảo tàng pizza được thành lập vào tháng 10-2018. Theo Manish Vora, sự xuất hiện ngày càng nhiều đối thủ cạnh tranh với Bảo tàng Kem cho thấy tiềm năng to lớn của mô hình kinh doanh này. Ông dự định sẽ thiết lập các điểm đến mới vào năm 2019 tại New York và Los Angeles cùng một điểm đến có tầm quốc tế ở châu Á. Ông cũng lên kế hoạch cho các dự án tiếp theo, có thể hoặc không theo chủ đề là món kem: “Chúng tôi đam mê kem nhưng nó sẽ chỉ là một đoạn phim nhượng quyền trong tương lai của đế chế giải trí Disney”.

Chú thích:

(*) Warby Parker là một thương hiệu Mỹ chuyên bán các sản phẩm kính mắt theo đơn và kính râm thời trang cả online lẫn offline. Khởi đầu từ mô hình thương mại điện tử, Warby Parker đã mau chóng mở các cửa hàng offline trên khắp nước Mỹ. Warby Parker đã làm thay đổi ngành công nghiệp kính mắt khi loại bỏ các trung gian bán lẻ, đưa ra giá cả cạnh tranh, sản phẩm chất lượng tốt và bắt kịp xu hướng thời trang, thu hút người tiêu dùng

Nguồn: Brandsvietnam

Có thể bạn quan tâm:

> 4 cách thức giúp thương hiệu luôn được làm mới

> Marketing chuyển biến trong “thời đại khám phá”

> Chiến lược mở rộng cấu trúc thương hiệu


VinFast Klara – chiếc xe nhỏ nhắn cùng giấc mơ “xanh” hóa phương tiện

Written by

Sáng 3/11, VinFast khai trương nhà máy xe điện thông minh trong tổ hợp nhà máy đặt tại Hải Phòng, đồng thời ra mắt 2 phiên bản của sản phẩm đầu tiên Klara. Đây là thành quả sau hơn 1 năm VinFast công bố dự án sản xuất ô tô, xe máy điện mà nhiều người lúc đó còn nghi ngờ về sự thành bại.

VinFast Klara sẽ có 2 phiên bản, dự kiến mở bán chính thức vào ngày 17/11 tới đây. Hãng xe Việt định vị khách hàng ở độ tuổi trẻ, sống ở thành thị, có nhu cầu đi lại thường xuyên trong phố và thích bắt kịp những xu hướng công nghệ mới. VinFast đặt tham vọng sản xuất 250.000 xe máy điện/năm trong giai đoạn 1, tăng lên 500.000 xe trong giai đoạn 2 và có thể mở rộng tới 1 triệu xe máy điện/năm.

Bên cạnh đó, đến hết 2019, VinFast còn cho ra mắt thêm 4 mẫu xe máy điện thông minh, phủ khắp các phân khúc từ trung cấp, cao cấp đến siêu cao cấp nhằm đa dạng hóa sự lựa chọn cho người tiêu dùng, bên cạnh 3 mẫu xe điện tập trung cho nhóm khách hàng học sinh sinh viên. Như vậy, chỉ hơn 1 năm tới, dải sản phẩm xe máy điện của VinFast đã lên con số 8.

Cơ sở nào giúp VinFast Klara là sản phẩm kinh doanh thành công?

Thị trường xe máy điện tại Việt Nam có 3 nguồn phân phối phổ biến, đại lý nhập khẩu tư nhân, thương hiệu nước ngoài phân phối và doanh nghiệp Việt liên kết với các đối tác nước ngoài để lắp ráp trong nước. Tuy nhiên, số lượng xe máy điện bán ra tại Việt Nam đa phần là nhập khẩu nguyên chiếc hoặc sử dụng linh kiện từ Trung Quốc. Trong khi đó, tự thiết kế, kết hợp với các đối tác cung ứng hàng đầu thế giới, cho đến sản xuất ra thành phẩm như VinFast là lần đầu tiên.

 

 

“Đây là phân khúc tiềm năng, nhưng vấn đề trước giờ là chưa có ai làm bài bản. Sản phẩm đầu tiên rất hứa hẹn, nhưng còn chuyện định hướng của VinFast như nào cũng là một dấu hỏi. Bởi trước đây Việt Nam không phải không có xe máy điện, nhưng nó chưa hình thành một phân khúc rõ rệt, nhiều người vẫn nhầm lẫn nó với xe đạp điện”, ông Hoàng Hà, người từng giữ vị trí Giám đốc truyền thông của một hãng xe máy Nhật Bản cho hay.

Ưu điểm vượt trội của VinFast Klara so với xe điện truyền thống

Sử dụng công nghệ tiên tiến. Thực tế, VinFast Klara có nhiều ưu điểm so với xe máy điện thông thường, nhất là việc sử dụng công nghệ đến từ các công ty danh tiếng như Bosch (Đức) hay Panasonic (Nhật Bản),… VinFast hướng Klara đến những người có nhu cầu thực sự về một mẫu xe điện thông minh để sử dụng hàng ngày. Trái ngược lại với thực trạng xe máy điện đang bị coi là một phương tiện tạm thời trước khi người tiêu dùng mua xe máy động cơ xăng.

Trong buổi lễ ra mắt, VinFast nhắc đi nhắc lại nhiều lần về cụm từ “xe máy điện thông minh” khi nói về Klara. Khả dĩ là vì, bên cạnh những lợi ích mặc định của xe máy điện, chữ “thông minh” thể hiện qua một số tính năng nâng cao, như kết nối internet 3G, định vị GPS, khóa và mở khóa xe từ xa, đồng bộ thông tin quãng đường, thông số lái xe qua smartphone, tìm trạm sạc, trạm thuê pin, trạm dịch vụ, báo tình huống khẩn cấp qua các số điện thoại đặt trước,…

Chiến lược thông minh: Thiết lập trạm sạc. Dẫu vậy, xe máy điện vẫn có những hạn chế cố hữu khi sử dụng tại Việt Nam, đó là khí hậu thường xuyên mưa ẩm và tình trạng ngập lụt ở các đô thị lớn, chưa kể đến việc hạ tầng giao thông chưa có trạm sạc ở nơi công cộng.

 

 

VinFast giải bài toán này bằng cách kết hợp với các đối tác, trong đó có PV Oil, nhằm thiết lập 30.000 – 50.000 trạm sạc và trạm thuê pin trên toàn quốc đến năm 2020, theo ba mô hình: trạm sạc thường, trạm thuê pin và trạm sạc nhanh. Hệ thống trạm sạc, cho thuê pin của VinFast sẽ có mặt ở các vị trí như bãi đỗ xe, các cửa hàng tiện ích VinMart+, hầm các chung cư, cổng trường học, ký túc xá trường học,… giúp việc sạc điện xe dễ dàng hơn bao giờ hết.

“Thiết lập các trạm sạc là điều chưa một hãng xe điện nào tại Việt Nam làm trước đây”, một chuyên gia đề nghị giấu tên cho hay. “Đây là một động thái cho thấy sự nghiêm túc về tham vọng chiếm lĩnh thị trường xe máy điện của VinFast”.

Đồng tình với quan điểm này, anh Hoàng Hà cho rằng việc đầu tư trạm sạc là điều cần phải làm. Rất nhiều nước trên thế giới cũng quan ngại về trạm sạc giống như ở Việt Nam, và khi VinFast làm được những gì công bố sẽ tạo ra sự yên tâm cho khách hàng. Ngay bản thân hãng xe điện danh tiếng Tesla cũng phải đổ rất nhiều tiền cho các trạm sạc điện để phục vụ hệ thống các xe mà họ tham vọng chiếm lĩnh thị phần từ tay xe dùng nhiên liệu truyền thống.

Không chịu ảnh hưởng bởi khí hậu của Việt Nam. Với khí hậu thường xuyên mưa lớn và tình trạng ngập lụt ở các đô thị, nhà sản xuất  chứng minh bằng màn lội nước 50 cm và ngâm trong nước 30 phút trong khuôn viên nhà máy trước giới truyền thông. VinFast Klara đạt tiêu chuẩn chống nước IP57. Mẫu xe này đã trải qua 29 lần thử nghiệm với tổng cộng 4.000 giờ đồng hồ.

Anh Lê Anh, huấn luyện viên của BMW toàn cầu, đánh giá cao khả năng lội nước 50 cm và ngâm trong 30 phút của VinFast Klara, vì từ trước đến nay khi nhắc đến xe điện, người tiêu dùng thường sợ việc di chuyển trong điều kiện ngập lụt sẽ làm ảnh hưởng đến pin, như hỏng hóc hay chí ít là giảm tuổi thọ của pin.

Để thành công, sản phẩm chỉ chiếm 25%

Có nhiều công nghệ hiện đại, trạm sạc rộng khắp trong tương lai, nhưng Klara cần nhiều yếu tố để thành công, mà đầu tiên là giá bán. Đây sẽ là một bài toán mà VinFast cần tìm lời giải, bởi giá bán Klara không có chuyện ngang tầm với xe điện đến từ Trung Quốc.

Khoảng giá mà người tiêu dùng Việt Nam dự đoán nhiều nhất sau buổi ra mắt là 25-30 triệu đồng, họ cho rằng con số đó là hợp lý, cũng có một số trường hợp cho biết vẫn sẵn sàng mua Klara nếu giá bán nằm trong khoảng 30-40 triệu đồng. Nhiều khả năng, VinFast Klara sẽ cạnh tranh trực tiếp với những mẫu xe sử dụng động cơ xăng truyền thống.

Với tham vọng của VinFast, việc thay thế được xe máy xăng trong đối với những người thường xuyên di chuyển trong đô thị là hoàn toàn khả thi bởi chi phí sử dụng thấp hơn, hàm lượng công nghệ cao hơn, bên cạnh việc VinFast đã giải quyết những bất tiện tồn động ở xe điện bấy lâu nay.

 

 

Ông Hoàng Hà phân tích: “Thực ra thị trường Việt Nam chỉ quen với xe tay ga, còn xe điện mà có thể cạnh tranh được với xe tay ga phải cần một chiến lược cụ thể. Trước nay, thị trường xe máy chia làm 3 loại chính, xe số, xe tay ga và xe phân khối lớn. Đối thủ của Klara sẽ là xe tay ga – sân chơi của Honda, Yamaha và Piaggio – mà trong tiềm thức khách hàng, loại phương tiện này gắn liền với động cơ đốt trong”.

“VinFast làm xe điện với kiểu dáng của xe tay ga nhằm tấn công vào phân khúc này, đương nhiên họ phải tạo ra được dấu ấn, phải cho thấy được giá trị sánh ngang với xe tay ga. Đến khi nào người tiêu dùng cân nhắc xe máy điện giống như một loại hình xe thứ 4, bên cạnh xe số, xe tay ga và xe phân khối lớn, thì VinFast sẽ nhanh hơn trong việc chiếm lĩnh thị trường, còn không nằm ở đâu thì rất khó”, ông Hà nói thêm.

“Sản phẩm chỉ chiếm 25% trong câu chuyện kinh doanh, còn lại là doanh nghiệp phải xác định bán vào đâu, giá cả, sản phẩm phù hợp với khách hàng nào, phân phối qua kênh và hệ thống nào, chiến lược truyền thông và marketing ra sao”, ông Hà nhận định.

Chiếc xe nhỏ nhắn cùng giấc mơ phi thường: “Xanh” hóa phương tiện tại Việt Nam

Nhưng không chỉ là câu chuyện kinh doanh, Klara là bước đi đầu tiên trong tham vọng ‘xanh’ hóa phương tiện giao thông tại Việt Nam của VinFast. Theo dữ liệu gần đây nhất của Trung tâm Phát triển và Sáng tạo Xanh (GreenID), 91% số ngày trong 3 tháng đầu 2018, mức độ ô nhiễm không khí ở Hà Nội vượt tiêu chuẩn cho phép của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO).

Cơ sở dữ liệu chất lượng không khí của WHO chỉ ra rằng khoảng 90% số người trên thế giới đang phải tiếp xúc với không khí bị ô nhiễm vượt quá giới hạn cho phép của WHO và có tới khoảng 7 triệu người tử vong mỗi năm do phơi nhiễm với các hạt bụi siêu nhỏ trong không khí.

Trong khi tất cả các khu vực trên thế giới đều bị ảnh hưởng bởi ô nhiễm không khí, nhưng người dân ở các thành phố thu nhập thấp bị ảnh hưởng nhiều nhất. Khu vực có mức ô nhiễm không khí cao nhất là phía Đông Địa Trung Hải và Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam. GreenID phân tích và chỉ ra rằng người dân Hà Nội đang phải tiếp xúc với không khí bị ô nhiễm xếp thứ 2 trong số 23 thành phố được khảo sát trong khu vực Đông Nam Á.

Báo cáo Hiện trạng môi trường quốc gia năm 2016 cho biết khí thải từ các phương tiện giao thông cơ giới đường bộ đang đứng đầu ở các đô thị lớn, vượt qua các xí nghiệp sản xuất, sinh hoạt dân cư hay hoạt động xử lý rác thải. Việt Nam hiện có hơn 45 triệu xe máy lưu hành, trong đó phần lớn là xe máy sử dụng nhiên liệu xăng đã tạo ra nguồn ô nhiễm đô thị rất lớn, và giải pháp trước mắt vẫn là chuyển sang sử dụng các nguồn năng lượng sạch. Ở Đài Loan – quốc gia số 1 về xe máy trên thế giới – đã khuyến khích việc sử dụng xe máy điện, thay thế cho xe máy sử dụng nhiên liệu truyền thống từ rất lâu nhằm bảo vệ môi trường.

 

 

“Chuyển sang các phương tiện sử dụng năng lượng sạch như điện là xu hướng tất yếu tại Việt Nam, đó còn chưa kể tới các lợi ích về việc tiết kiệm chi phí trong quá trình sử dụng loại xe này”, anh Lê Anh, huấn luyện viên BMW toàn cầu cho hay.

Và đây là cơ hội của VinFast. Để thực hiện tham vọng đó, doanh nghiệp này đang xây dựng hệ sinh thái toàn diện cho xe máy điện thông minh, bao gồm nhà máy, dải sản phẩm, hệ thống trạm sạc và trạm thuê pin, hệ thống điện toán đám mây cùng ứng dụng điện thoại và hệ thống đại lý uỷ quyền. Bên cạnh đó là việc VinFast sẽ có dải sản phẩm 8 mẫu xe máy điện đến hết 2019.

Không chỉ có xe hai bánh, trong năm tới, hãng xe Việt sẽ cho ra mắt thêm một mẫu ô tô điện cỡ nhỏ. Lý giải cho việc vì sao lại ‘điện hóa’ xe máy trước ô tô, ông Hoàng Hà nhận định: “Đối với mảng ô tô, việc bắt đầu bằng động cơ đốt trong là hợp lý, để có thời gian phát triển ô tô sử dụng động cơ điện. Vì hướng đi hiện tại cho thấy xe điện mới là mục tiêu chính của VinFast”.

Nhưng câu chuyện ‘xanh’ hóa phương tiện giao thông phải xuất phát từ 2 phía, doanh nghiệp và nhà nước. Ở trên thế giới, rất nhiều quốc gia đã và đang có những chính sách hỗ trợ cho doanh nghiệp phát triển và sản xuất phương tiện thân thiện với môi trường, thậm chí là trợ giá hay hỗ trợ cho người tiêu dùng.

Còn tại Việt Nam, dù chưa có chính sách nào cụ thể, ông Hoàng Hà nhìn nhận việc VinFast tham gia phân khúc xe máy điện sẽ là một yếu tố để thúc đẩy ngành này. Nếu nhìn thấy cơ hội, nhà nước sẽ có những chính sách phù hợp, bên cạnh đó còn kéo theo các ‘ông lớn’ như Honda và Yamaha chen chân thị trường Việt Nam. Khi đó, người được lợi nhất chính là khách hàng Việt Nam.

Nguồn: Tri thức trẻ

Có thể bạn quan tâm:

> Liệu các hãng hàng không truyền thống có lép vế khi xuất hiện “đối thủ ngầm”?

> Xu hướng của ngành quảng cáo ngoài trời tại Việt Nam

> Nhìn lại chiến dịch marketing “Share a coke” thành công của Coca-cola


5 lý do chứng minh tại sao Influencer Marketing tốt hơn Celebrity Marketing

Written by

Những người nổi tiếng như Brad Pitt, Kim Kardashian và Taylor Swift luôn là nguồn truyền cảm hứng cho hàng triệu người trên toàn thế giới. Họ có thể là diễn viên, nghệ sĩ, ngôi sao thực tế hay ca sĩ, những người nằm trong danh sách celeb mỗi năm. Những gương mặt nổi tiếng thường có lượng người theo dõi đông đảo trên mạng xã hội và liên tục nhận được nhiều ưu đãi từ những kênh truyền thông truyền thống. Do đó, các thương hiệu và các nhà tiếp thị thường rất thích khai thác sự phủ sóng rộng rãi và mức độ tiếp cận thị trường cao từ những người nổi tiếng này.

Nhưng liệu việc sử dụng những người nổi tiếng để thực hiện chiến dịch tiếp thị của bạn có thật sự khả thi? Và có sự lựa chọn thay thế nào có thể mang lại kết quả tương tự hoặc tốt hơn hay không?

Dưới đây là 5 lý do minh chứng cho nghi vấn tại sao Influencer Marketing lại tốt hơn Celebrity Marketing trên một số phương diện.

1. Influencer (người có ảnh hưởng) thường có chuyên môn trong lĩnh vực mà họ quảng cáo

Justin Bieber là một ca sĩ tài năng với gu thời trang tuyệt vời. Với vai trò là một nghệ sĩ biểu diễn, anh ấy hoàn toàn có chuyên môn đáng kể trong lĩnh vực này. Do đó, anh ấy hoàn toàn có thể đưa cho những bạn nam giới trẻ hơn một số bí quyết có giá trị về gu thời trang của mình. Từ đó, các thương hiệu sẽ dùng chàng ca sĩ Justin Bieber như là một phần quan trọng trong chiến dịch tiếp thị của họ, với mục đích nhắm vào những người tiêu dùng trẻ tuổi có hứng thú với nhạc pop và thời trang. Tuy nhiên, chiến dịch này sẽ có ít tác động hơn hoặc thậm chí là gây ra sự tiêu cực cho các thương hiệu nếu như áp dụng vào những khu vực thị trường khác.

 

 

Nếu bạn là người khởi nghiệp hoặc một thương hiệu chuyên về một sản phẩm hay dịch vụ nào đó, thì nên hợp tác với các influencer có chuyên môn riêng trong lĩnh vực đó. Các influencer đã xây dựng được niềm tin với lượng người theo dõi của họ trước đó thì chắc chắn sẽ mang đến giá trị cho chiến dịch tiếp thị của bạn.

2. Influencer có các đối tượng mục tiêu với tỷ lệ tương tác cao hơn

Hình thức tiếp thị Influencer marketing đã vươn lên toàn cầu và hiện có rất nhiều thương hiệu đang tận dụng các influencer nhằm nhanh chóng thúc đẩy cho các chiến dịch marketing của họ. Theo một báo cáo từ TopRank Marketing và Traackr, sau khi khảo sát các nhà tiếp thị trên toàn thế giới, thì 43% cho biết họ đang thử nghiệm với hình thức influencer marketing, còn 57% còn lại dự định sẽ thực hiện nó trong ba năm sắp tới đây.

 

Mỗi influencer đều nhắm vào các mục tiêu khách hàng cụ thể và xây dựng lòng tin nơi họ bằng cách chia sẻ quan điểm cũng như một số nội dung có liên quan. Nếu họ dành sự ủng hộ cho một sản phẩm hay dịch vụ nào đó cụ thể thì số lượng người theo dõi của họ cũng sẽ thể hiện sự quan tâm chung.

3. Influencer thường dễ tiếp cận và có mức giá phù hợp

Với những người nổi tiếng thì thường mức giá đưa ra sẽ đắt hơn rất nhiều. Người càng nổi tiếng thì mức phí cũng theo đó mà tăng lên. Những công ty lớn có thể sẽ có khả năng chi trả cho số tiền khổng lồ đó, tuy nhiên với những doanh nghiệp nhỏ hay người mới khởi nghiệp thì không.

May mắn thay, giờ đây những doanh nghiệp nhỏ đó cũng có thể lan tỏa, truyền bá thông điệp của mình bằng cách kết nối với các influencer, những người hoàn toàn phù hợp với ngân sách cũng như nhanh chóng giúp họ tiếp cận thị trường mục tiêu của mình. Bên cạnh đó, việc thỏa thuận để tìm cách thúc đẩy thương hiệu của bạn với các influencer cũng vô cùng dễ dàng.

4. Các influencer thường có tính xác thực và kết nối tốt hơn

Hầu hết các khách hàng đều hiểu rằng việc những thương hiệu sử dụng celeb đều với mục đích chính đó là lôi kéo, thu hút họ. Họ cũng biết rằng những thương hiệu này đều sẵn sàng chi trả một món tiền lớn để giành cơ hội hợp tác với những người nổi tiếng. Mặc dù điều này sẽ giúp việc quảng bá thương hiệu được phủ sóng rộng rãi hơn, thế nhưng việc đó không giúp thiết lập các mối liên kết chặt chẽ với các khách hàng tiềm năng.

 

Từ đó, đây sẽ là nơi dành cho các influencer tỏa sáng, vì họ thường xuyên xem xét sản phẩm và cung cấp nội dung phù hợp nhằm thu hút, gia tăng lượng khách hàng. Họ cũng cho thấy sự kết nối của mình bằng cách đăng những đoạn video lên Youtube kể về cuộc sống thường ngày. Điều này cho các fan hâm mộ của họ thấy rằng những người nổi tiếng, có tầm ảnh hưởng cũng đều chỉ là những người bình thường.

5. Influencer Marketing là một chiến lược đầy tính sáng tạo hơn

Trong quá trình tác động lên thị trường mục tiêu của mình thì giữa những người nổi tiếng và các influencer đều có nhiều điểm khác biệt chính yếu. Những người nổi tiếng thì thường phổ biến hơn đối với các kênh truyền thông truyền thống, và một trong số đó thì vẫn chưa xây dựng được sự hiện diện trực tuyến đáng kể. Hơn nữa, nhiều người nổi tiếng cũng không có nhiều mối quan hệ với lượng người theo dõi họ.

 

Influencer thì lại khác, họ đã dành thời gian để xây dựng thương hiệu cá nhân của mình trên Youtube cũng như một số nền tảng khác. Họ khá hiểu rõ khách hàng của mình bởi thường xuyên trò chuyện để thêm phần gắn kết. Vì vậy, việc đã thiết lập những mối quan hệ đáng tin cậy với khách hàng từ trước sẽ giúp ích cho họ rất nhiều trong suốt quá trình thực hiện các chiến dịch tiếp thị. Cuối cùng, họ thích lan truyền thông điệp với những chiến lược sáng tạo hơn là trở thành “tay ngang” như các nhà quảng cáo hay nhân viên bán hàng ngày nay.

Kết luận

Influencer marketing thực sự là một sự thay đổi mới mẻ cho những thương hiệu cần cơ chế tiếp thị hiệu quả. Các công ty mới khởi nghiệp hay có quy mô nhỏ nếu không thể trả chi phí quá cao cho việc tiếp cận những người nổi tiếng thì nay đã có các influencer trên Youtube với giá cả phải chăng. Họ đều là những chuyên gia trong nhiều lĩnh vực, có mối liên kết với khách hàng và không ngừng tìm tòi ra phương pháp sáng tạo nhất để truyền bá thông điệp của mình.

Nguồn: AD Sáng tạo

Có thể bạn quan tâm:

> Tương lai của ngành mỹ phẩm: Tăng trải nghiệm khách hàng bằng công nghệ

> Vì sao doanh nghiệp Việt ‘khó xơi’ miếng bánh bán lẻ hấp dẫn tại Nhật?

> Marketing chuyển biến trong “thời đại khám phá”


4 cách thức giúp thương hiệu luôn được làm mới

Written by

Tại sao các thương hiệu bán các sản phẩm tương tự lại đạt được các mức độ thành công khác nhau? Rất đơn giản, chìa khóa thành công nằm ở chiến lược xây dựng thương hiệu.

Xây dựng thương hiệu đến từ tất cả hình thái, mỗi doanh nghiệp đều có góc nhìn riêng, tiếng nói, cá tính và đặc điểm riêng. Nhưng một số thương hiệu lại nổi bật hơn những thương hiệu khác, nhận được nhiều tiếng vang hơn, ngay cả khi đều bán sản phẩm hoặc dịch vụ giống hệt nhau.

Bạn đều biết về những công ty thành công đó… Họ là những người bạn theo dõi trên Instagram bởi vì nội dung của họ luôn ở đúng trọng tâm và hình ảnh của họ giống như bước ra từ một tạp chí. Hoặc có lẽ doanh nghiệp đó là cửa hàng địa phương mà mọi người đề xuất với bạn bè, hoặc người đó phải xem trang web thương mại điện tử.

Vậy những doanh nghiệp này đã làm gì để khác biệt với số đông?

  

Khác biệt là luôn có một ý tưởng để làm và luôn đi theo kế hoạch. Khác biệt chống lại sự mờ nhạt bằng cách thử một cái gì đó mới mà không ai khác đang làm, biết rằng nó có thể thất bại. Nếu chúng ta muốn nổi bật, định nghĩa của “Khác biệt” là “thể hiện sự can đảm, quyết tâm và nhiệt huyết”. Về cơ bản, đó là sự sẵn sàng để có một bước nhảy vọt.

Thông thường, các chiến dịch tiếp thị và xây dựng thương hiệu thành công nhất là những chiến dịch sẵn sàng mạo hiểm với bản sắc của doanh nghiệp. Chúng ta hãy lấy nước sốt xà lách làm ví dụ. Có hàng ngàn công ty sản xuất, chế biến và bán salad. Hầu hết họ đều có một cách tiếp cận tương tự với việc nhắn tin và ghi nhãn hiệu, và họ bán cùng một sản phẩm từ năm này qua năm khác.

Nhưng hãy xem xét thương hiệu JUST. Họ bán salad nhưng dường như đang khoác lên mình một bộ quần áo, nhãn hiệu của nó đơn giản đến nỗi họ thu hút được sự chú ý của bạn. Logo – một nhãn hiệu đen trắng đơn giản đã tôn lên màu sắc của sản phẩm bên trong. Sự đơn giản đã thể hiện chất lượng sản phẩm

Trang web cũng phản ánh sự tối giản, nhưng thay vì giải thích lý do tại sao trang trại của nó lại nằm ngoài thế giới này, JUST kể cho bạn nghe câu chuyện của nó. JUST cho bạn thấy bóng dáng của những người đứng đằng sau thương hiệu và những gì họ tạo ra.

JUST đã mang đến thương hiệu cái gì đó thật khác biệt, và điều đó gắn kết khách hàng và thương hiệu.

Một thương hiệu khác tạo nên con đường cho thương hiệu một cách trực tiếp là Dollar Shave Club. Nó đã phá vỡ Internet với thông điệp thú vị với việc cạo râu.

“Hãy đối mặt với nó!” Cạo râu không phải là công việc yêu thích của mọi người, nhưng đó là điều cần thiết hàng ngày. Tất cả chúng ta đều có phần dao cạo không mong muốn khiến chúng tôi phải tìm kiếm những mảnh giấy vệ sinh để thấm máu, và tất cả chúng tôi đều đứng trong cửa hàng tạp hóa, tranh luận để mua một thứ 25$ mà bạn không thực sự cảm thấy không đáng giá.

Dollar Shave Club đã cách mạng hóa dao cạo râu, tạo ra một sản phẩm chất lượng với giá chỉ bằng một phần chi phí của nhiều dao cạo thông thường. Và nó xuất hiện ở ngưỡng cửa của bạn mỗi tháng với một túi đựng chèn vào khiến bạn phải bật cười – và đó là điều khiến bạn trở thành một khách hàng trung thành. Dollar Shave Club mang đến một thương hiệu táo bạo bằng cách loại các điểm gây xước của dao cạo và cung cấp trải nghiệm tốt hơn, đó là những gì mọi người quan tâm đến.

Phần thú vị nhất về xây dựng thương hiệu là bất kỳ ai nào có thể làm điều đó, cho dù bạn là một người nội trợ hay một doanh nghiệp hoạt động nhiều năm và muốn tự sáng tạo.

Và phần yêu thích của tôi? Bất kỳ doanh nghiệp nào cũng có thể xây dựng thương hiệu của mình. Đây là cách bắt đầu.

Tiếng nói thương hiệu

Cách bạn trò chuyện với khách hàng của bạn tạo ra một cơ hội để tương tác với họ – đặc biệt là với nỗi đau hoặc nhu cầu của họ. Khi bạn có thể thấu hiểu đủ để làm cho ai đó cười, bạn đã có được một khách hàng – hoặc ít nhất sẽ có một người nói về thương hiệu của bạn với bạn bè họ.

Mỗi thương hiệu đều có điểm khác biệt, và việc tìm kiếm tiếng nói riêng là một cơ hội để giao tiếp với khách hàng của bạn. Biết ai là đối tượng mục tiêu, họ đang gặp phải vấn đề gì và cách bạn giúp họ giải quyết những vấn đề đó.

Ví dụ, một thương hiệu đồ ăn nhẹ có thể đem đến tia sáng cho các bà mẹ bận rộn –  ‘không có cơ hội để ăn bữa ăn của mình không bị làm phiền”; chúng ta có thể thấy một người mẹ lẻn một món ăn nhẹ trong phòng giặt và một tiêu đề “Bạn có thể ăn vặt bất cứ khi nào có thể”.

Hãy thực tế. Nói chuyện với họ như họ là bạn của bạn. Cùng xác thực những gì họ đang trải qua, và sau đó chỉ cho họ cách giải pháp có thể.

Hình ảnh thương hiệu

Giống như giọng điệu, hình ảnh thương hiệu là một cách để giao tiếp với khán giả của bạn. Màu sắc, phông chữ, hình ảnh và quảng cáo của bạn phải nhất quán, bất kể trên nền tảng nào. Hình ảnh là một cách để gửi thông điệp bằng cách tạo cảm giác, có hoặc không cần dùng từ ngữ.

Trong ví dụ trước đó, những bà mẹ bị làm phiền không muốn nhìn thấy hình ảnh của các bà mẹ hoàn hảo đi dạo qua công viên vào buổi sáng của họ. Họ muốn thấy các bà mẹ giống như họ, có cùng vấn đề. Họ muốn nhìn thấy một căn nhà có ngũ cốc dính vào mặt trẻ em, quần áo trên sàn nhà, và một bà mẹ điên cuồng với một cái bánh lộn xộn trên đầu. Tại sao? Bởi vì họ có thể thấy mình trong những tình huống đó và biết rằng họ không đơn độc.

Hiểu khán giả của bạn từ trong ra ngoài và tạo ra những hình ảnh phù hợp với họ.

Lỗ hổng

Để tạo ra ý tưởng để kinh doanh, bạn phải có tất cả và không bao giờ phạm sai lầm – và nếu bạn làm thế, sẽ không bao giờ nói chuyện cùng khách hàng được.

Tôi là một fan hâm mộ lớn của sự thật và dễ bị tổn thương. Tôi đảm bảo rằng các nhà lãnh đạo doanh nghiệp bạn ngưỡng mộ đã bị mất một đêm (hoặc 30 đêm) của giấc ngủ trên một vấn đề, ý tưởng, hoặc sự đánh đổi.

Chia sẻ câu chuyện của bạn với nhóm và khán giả của mình. Hãy cho họ biết bạn thực sự giống như họ.

Chia sẻ câu chuyện của bạn trên website. Việc sáng tạo video không phải lúc nào cũng hoàn hảo. Hãy để mọi người nhìn thấy hậu trường để họ hiểu những gì đang diễn ra. Bạn sẽ nhận được sự tôn trọng từ rất nhiều người và những người không quan tâm sẽ không phải là khách hàng hoặc khách hàng của bạn ngay từ ban đầu đầu.

Thúc đẩy

Sự khác biệt lớn nhất giữa các cửa hàng cà phê nhỏ và chuỗi cửa hàng cà phê quốc gia là động lực phát triển. Bạn phải biết mình muốn phát triển doanh nghiệp của mình ở đâu và đặt mọi người và mọi thứ vào vị trí để thực hiện điều đó.

Thừa nhận lỗi của bạn và xây dựng một đội ngũ có khả năng độc đáo – tốt nhất là bạn không nên có tính sở hữu. Bạn không thể làm tất cả. Nếu bạn muốn duy trì ở quy mô nhỏ và địa phương, thì hãy làm như vậy. Nếu bạn muốn trở thành một công ty quốc tế trong ba năm tới, bạn đã có một số việc phải làm! Biết mục tiêu của bạn, và sau đó sử dụng sự khác biệt để hiện thực hóa.

Nguồn: Laura Wallace | MarketingProfs

Laura Wallace là chủ doanh nghiệp, giám đốc sáng tạo và người sáng lập tại Worx Graphic Design. Cô cũng là tác giả của Brandstarter và là người sáng lập dự án The Green Couch.

Có thể bạn quan tâm: 

>> Đừng vội tin vào 9 điều sau khi làm Digital Marketing

>> Đừng mải chạy theo Digital mà quên mất các kênh Offline

>> Khẩu vị người Việt: Trà hay Cà phê?

Vì sao doanh nghiệp Việt ‘khó xơi’ miếng bánh bán lẻ hấp dẫn tại Nhật?

Written by

Hấp dẫn và tiềm năng nhưng các nhà bán lẻ Việt cho rằng hiện tiêu chí để vào được thị trường Nhật Bản quá khắt khe. Nếu thành công, cơ hội vào các nơi khác sẽ dễ dàng hơn.

Tính đến cuối năm 2017, các doanh nghiệp Nhật Bản đã đăng ký tổng vốn đầu tư FDI vào Việt Nam là 49,46 tỷ USD, xếp thứ hai sau Hàn Quốc. Làn sóng đầu tư này kéo theo các nhà bán lẻ Nhật xuất hiện ở Việt Nam ngày càng nhiều như các chuỗi trung tâm mua sắm, cửa hàng tiện lợi Aeon mall, 7-Eleven, Ministop… Tuy nhiên, ngược lại, doanh nghiệp bán lẻ Việt muốn vào Nhật Bản lại không phải là chuyện dễ.

Tại hội thảo “Sự phát triển ngành kinh doanh bán lẻ tại Nhật Bản” chiều 30/10, trong khi các chuyên gia ngành bán lẻ Nhật Bản đặt nhiều kỳ vọng về thị trường, thì các doanh nghiệp Việt lại lo lắng vì “miếng bánh” không “dễ xơi”.

Nhu cầu rất cao về thực phẩm

Các chuyên gia bán lẻ Nhật Bản cho rằng sự thay đổi cấu trúc dân số là một trong những nguyên nhân tác động đến ngành bán lẻ nước này hiện nay và trong tương lai.

Ông Tetsuichiro Tomihari – Giám đốc khối triển lãm Hiệp hội siêu thị Nhật Bản, luôn nhắc đến cụm từ “trẻ con ít, người già nhiều” khi nói về dân số Nhật Bản. Ông cho rằng đây là từ ngữ truyền thông Nhật luôn dùng khi nói đến các vấn đề xã hội của đất nước.

Theo số liệu thống kê, hiện nay, tỷ lệ người già trên 65 tuổi của Nhật đang ở con số cao kỷ lục, chiếm 26,6% và có nguy cơ sẽ tiếp tục tăng.

“Số hộ gia đình tiếp tục tăng, tỷ lệ sinh giảm và dân số già sẽ không làm ảnh hưởng xấu đến thị trường tiêu thụ thực phẩm. Ngược lại, sự lão hóa càng làm tăng chi phí mua thực phẩm, nguyên nhân là họ càng mua nhiều sản phẩm tươi sống hơn”, ông Tomihari khẳng định.

Đại diện Hiệp hội siêu thị Nhật Bản cũng cho biết thêm chi tiêu của các gia đình tại xứ sở hoa anh đào hiện nay là con số hấp dẫn, đáng mơ ước với ngành bán lẻ và các siêu thị. Nguyên nhân là liên quan sự thay đổi trong cấu trúc hộ gia đình của người Nhật.

“Hiện Nhật Bản có xu hướng đang ngày càng tăng hộ 1 người, giảm hộ 2-3 thành viên. Trong khi hộ 1 người chi tiêu khoảng hơn 4 triệu đồng mỗi tháng cho hàng thực phẩm thì hộ 6 người cũng chỉ tốn khoảng hơn 10 triệu đồng, tức trung bình chưa đến 2 triệu đồng/người. Rõ ràng, khi so sánh chi tiêu, con số này là đáng mơ ước với ngành bán lẻ”, ông nói.

Các chuyên gia cũng cho biết siêu thị là kênh mua sắm chủ yếu của người Nhật. Người tiêu dùng Nhật Bản thường chọn siêu thị để mua thực phẩm và các vật dụng trong gia đình.

Ngoài siêu thị thì cửa hàng tiện lợi, drugstore, thương mại điện tử là những kênh mua sắm khác quen thuộc với người trẻ. Các chuyên gia cho rằng với sự đa kênh này, “miếng bánh” trong ngành bán lẻ thực phẩm ở Nhật Bản đang rất béo bở, với nhiều cơ hội cho doanh nghiệp Việt Nam.

Hy vọng cung ứng nhưng mới dừng ở gia công

Bị hấp dẫn trước thị trường bán lẻ Nhật Bản, tuy nhiên, nhiều doanh nghiệp Việt lại cho rằng “miếng bánh” này không dễ ăn. Nguyên nhân đầu tiên là cánh cửa để vào được thị trường Nhật Bản không hề dễ dàng bởi những tiêu chí khắt khe.

Bà Lê Thị Thanh Lâm – Phó tổng giám đốc công ty CP Saigon Food, cho hay hiện doanh nghiệp của bà chỉ gia công sản phẩm theo các đơn đặt hàng của Nhật rồi xuất khẩu sang thị trường nước này. Việc “tự thân vận động” rồi bắt tay với các siêu thị Nhật Bản để bán hàng là chưa có.

“Người Nhật rất quan trọng chất lượng sản phẩm. Ngay khi hợp tác gia công, từ nguyên liệu, quy trình, công nghệ, kiểm soát đều do họ cung cấp và quản lý. Ngoài ra, người Nhật cũng rất quan tâm dịch vụ hậu mãi sau khi mua sản phẩm. Trong khi đó, những điều này doanh nghiệp Việt vẫn hạn chế”, bà Lâm nói.

Đại diện Saigon Food cho rằng trong khi nguyên liệu Việt Nam khá bấp bênh, chất lượng và sản lượng còn bị ảnh hưởng bởi mùa vụ, thời tiết nên không thể đáp ứng tiêu chí về thực phẩm của Nhật Bản.

Dưới góc độ chuyên gia về siêu thị và ngành hàng bán lẻ Nhật, ông Tetsuichiro Tomihari cũng thẳng thắn nhìn nhận công nghệ và con người là khâu hiện các doanh nghiệp Việt còn yếu.

Theo ông, công nghệ bảo quản thực phẩm ở một nhiệt độ nhất định rất quan trọng giúp sản phẩm không bị thay đổi hình dạng, chất lượng và đảm bảo sức khỏe. Người tiêu dùng Nhật Bản rất quan trọng yếu tố này.

Doanh nghiệp Việt cần làm gì để vào được Nhật Bản?

Đầu vào khắt khe nhưng hầu hết doanh nghiệp Việt đều cho rằng Nhật Bản là thị trường quan trọng và muốn sản phẩm của họ có mặt trong tương lai. Nguyên nhân là nếu đáp ứng các tiêu chí của Nhật thì cơ hội lấn sân sang những thị trường khác sẽ dễ dàng hơn.

Giám đốc triển lãm Hiệp hội siêu thị Nhật Bản cho biết các doanh nghiệp Việt muốn đưa sản phẩm vào thị trường tiêu thụ Nhật Bản phải thông qua các đại sứ quán, tham tán thương mại để làm cầu nối.

Ông cho rằng do đặc thù kinh doanh của người Nhật, việc được kết nối với một bên thứ 3 có kinh nghiệm kiểm định ngay từ bước đầu khiến họ an tâm hơn, giúp cho việc đàm phán, đưa sản phẩm vào tiêu thụ nhanh chóng và hiệu quả hơn.

“Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương sẽ giảm áp lực về hàng rào thuế quan. Tôi thấy rằng, riêng mảng thực phẩm thì trái cây và các loại gia vị dùng trong nấu ăn đang được người tiêu dùng tại Nhật rất chuộng. Đây là cơ hội cho các doanh nghiệp Việt Nam”, ông Tomihari nói.

Ông cũng khuyến khích các doanh nghiệp Việt nên nghiên cứu, tập trung phát triển món phở để đưa sang Nhật. Ông cho rằng phở là món ăn truyền thống của Việt Nam, có rất nhiều ở Nhật và được ưa chuộng, tuy nhiên lại không phải mang thương hiệu của Việt Nam.

“Các doanh nghiệp Việt cần quan tâm đến áp dụng công nghệ, thay đổi công nghệ để nâng cao chất lượng sản phẩm Việt. Từ đó, mới có thể mang thương hiệu của mình đến thị trường Nhật Bản”, Giám đốc triển lãm Hiệp hội siêu thị Nhật Bản tư vấn.

Nguồn: Zing News

Có thể bạn quan tâm:

Doanh nghiệp vừa và nhỏ gặp khó khăn trong việc tìm kênh phân phối

WinRar lãi hay lỗ từ việc cho khách hàng dùng thử mãi mãi?

Xu hướng của ngành quảng cáo ngoài trời tại Việt Nam


Chiến lược mở rộng cấu trúc thương hiệu

Written by

Bài viết này dựa trên những khảo sát về kiến trúc thương hiệu của Paul Temporal và David Aaker, sau đó tác giả nghiên cứu bổ sung những vấn đề mới hơn dựa trên kinh nghiệm tư vấn thương hiệu của chuyên gia trong hoạt động hiện nay tại Cowan Australia, nhất là vấn đề kiến trúc nhận diện thương hiệu và kiến trúc tên thương hiệu, những vấn đề mà hầu hết các tập đoàn hay tổng công ty hiện đang rất quan tâm.

Kiến trúc Thương hiệu (Brand Architecture) là một trong những khái niệm quan trọng trong phương pháp luận quản trị chiến lược thương hiệu (brand marketing strategy). Về cơ bản có thể hình dung Kiến trúc Thương hiệu như là một cơ cấu phả hệ hoặc sơ đồ tổ chức mà các vị trí trong sơ đồ là các thương hiệu thay cho các Cá nhân. Mục đích chủ yếu của kiến trúc thương hiệu là hình thành một cơ cấu mang tầm chiến lược đối với việc phát triển sản phẩm và thương hiệu trong các doanh nghiệp lớn mà trong đó có quá nhiều chủng loại sản phẩm và nhắm đến nhiều đối tượng khách hàng khác nhau.

Tư duy cần thiết đối với kiến trúc thương hiệu là xem nó như một cái cây đang sinh trưởng trong không gian cụ thể xung quanh, chứ không phải là một kiến trúc cơ học khô cứng và không nảy nở. Vì vậy yêu cầu tối thiểu đối với một kiến trúc thương hiệu là xem xét lại cấu trúc ít nhất hàng năm trong mỗi chu kỳ hoạch định marketing cho từng thương hiệu.

Bài viết này tập trung mô tả các Cấp độ và Hình thái khả dĩ có thể xem xét cho một kiến trúc thương hiệu thích hợp mà doanh nghiệp có thể tham khảo. Tuy nhiên không có một mô thức hay hình mẫu chung nào cho Kiến trúc Thương hiệu đối với hai doanh nghiệp khác nhau. Các hình thái dưới đây có thể giúp các CEO (hay CMO) đi đến quyết định hợp lý cơ cấu ‘thương hiệu – sản phẩm’ cho doanh nghiệp mình. Về nguyên tắc trước tiên cần phân biệt các lĩnh vực cơ bản trong nghiên cứu kiến trúc thương hiệu: (a) kiến trúc thương hiệu công ty (tổng công ty hay tập đoàn), (b) kiến trúc thương hiệu sản phẩm, (c) kiến trúc nhận diện thương hiệu và (d) kiến trúc tên thương hiệu.

1. Kiến trúc theo sản phẩm (product branding)

Có thể nói đây là hình thái cơ bản của Kiến trúc Thương hiệu. Các tập đoàn hàng tiêu dùng tiên phong khai mở khái niệm Brand Architecture là P&G và Unilever và một số hãng dược phẩm sau đó đã sử dụng hình thái này trong những thập kỷ nửa sau thế kỷ 20. Các chức danh tương ứng cho các bố trí nhãn hiệu này là Product Manager, hay Product Group Manager. Pringles, Ariel, và Lux là những nhãn hiệu tiêu biểu. Hầu như không thấy xuất hiện tên Thương hiệu Công ty trong việc gắn nhãn theo phương thức này. Ngân sách tiếp thị, vì vậy được đầu tư độc lập cho từng dòng sản phẩm riêng biệt. Khá nhiều công ty dược phẩm hiện vẫn đang áp dụng cấu trúc theo sản phẩm, và hệ thống quản trị marketing theo sản phẩm, vì vậy các chức danh chúng ta thường thấy là “giám đốc sản phẩm” chứ không là giám đốc thương hiệu. Ở một vài công ty khác, nhất là các tập đoàn chuyên phân phối (SUTL của Singapore, EAC của Đan Mạch và Diethem của Đức) cơ cấu này được gọi là các Business Unit. Tư duy kiến trúc theo dòng sản phẩm cũng được mở rộng theo xu hướng của chính mình để tạo ra khái niệm ngành hàng (product category) và thậm chí những góc nhìn rộng hơn như ngành công nghiệp (the industry) và hình ảnh tư duy quản lý theo ngành, hay theo sản phẩm (vĩ mô, quản lý nhà nước).

Dưới góc độ marketing hiện đại càng ngày mô thức này chỉ bộc lộ tính hợp lý đối với những ngành, sản phẩm truyền thống hay những phân đoạn đầu của chuỗi giá trị. Và dĩ nhiên nó vẫn được áp dụng phổ biến trong tiếp thị công nghiệp (industrial marketing).

Dưới góc nhìn tư duy thì product branding dựa trên chủ yếu là tư duy nhà sản xuất phân loại sản phẩm của mình theo công dụng hay theo phân nhánh công nghệ.

Ưu điểm:

Điểm quan trọng nhất trong hình thái kiến trúc dòng sản phẩm đó là xem mỗi dòng sản phẩm là độc lập, không liên quan gì đến các dòng sản phẩm khác. Tư duy này hình thành từ thời kỳ mà chúng tôi gọi là “thời kỳ marketing theo sản phẩm” (product marketing). Sự hình thành các thương hiệu được xem như gán cho mỗi sản phẩm hay mỗi dòng sản phẩm “một cái tên”, chứ không phải sáng tạo một ý tưởng thương hiệu (brand concept) – sản phẩm hoàn chỉnh cho từng nhóm khách hàng mục tiêu. Đối với P&G, nhãn Pringles được gán cho dòng sản phẩm khoai chiên hay đồ ăn nhanh (snack food); đối với Unilever nhãn hàng Lipton gắn cho các loại thức uống từ trà. Ngay trong những năm 90 ở Unilever vẫn hình thành các vị trí Product Group Manager với tư duy tiếp thị theo từng nhóm-sản-phẩm.

Nhược điểm:

Bằng mô thức này, có những thương hiệu hình thành từ cùng sản phẩm cho nên đối với hai nhóm người tiêu dùng cao cấp và bình dân luôn xảy ra mâu thuẫn là hình ảnh thương hiệu bị cạnh tranh nuốt lẫn nhau (canibalism). Trong khi người tiêu dùng mang ấn tượng mỗi thương hiệu với mức giá khác nhau như là một sự khẳng định về đẳng cấp (status). Người tiêu dùng cao cấp khó có thể chấp nhận thương hiệu “của mình” gắn vào một nhóm sản phẩm cùng loại nhưng rẻ tiền. Để dễ nhớ và dễ phân tích hơn, các bạn hãy xem mô hình “kiến trúc theo sản phẩm” (poroduct branding) là mô hình product marketing, trong đó vai trò của thương hiệu còn “nằm bên trong sản phẩm”. Hay nói cách khác mô hình này thường chỉ thích hợp khi cấu trúc sản phẩm theo góc nhìn của Lý tính. Đối với các sản phẩm công nghiệp dạng thô hay nguyên vật liệu thì mô thức này vẫn có thể được áp dụng.

2. Kiến trúc mở rộng chiều ngang (Line Branding)

Đây là phương thức gắn nhãn khá hiện đại, được bắt đầu áp dụng trong những thập niên 80 (thế kỷ 20) bởi Pepsi và Unilever. Điển hình là một loạt nhãn 7up như 7-up Diet, 7-up Cherry, 7-up Strawberry.. và nhãn Dove với Dove soap, Dove cleansers, Dove deodorants (sản phẩm khử mùi), Dove creams (kem dưỡng da)… Trong mô hình này người ta đã ý thức được việc khai thác giá trị của thương hiệu (tức brand equity) với quan điểm khá đơn giản cho rằng gắn nhãn vào các dòng sản phẩm mới sẽ tiết kiệm chi phí đầu tư cho một nhãn mới hoàn toàn. Trong thực tế, Pepsi là một trong những công ty thực hiện mở rộng thương hiệu (brand extension) nhiều nhất và tỷ lệ thành công không phải là tuyệt đối; chẳng hạn các bạn có thể thấy Pepsi-Xanh có mặt khoảng năm 2000 và biến mất vào 3 năm sau đó.

Phạm vi mở rộng và khái niệm ‘tới hạn’ hay điểm dừng cũng là một vấn đề rất cần được quan tâm. Phạm vi này diễn biến từ một mức độ gần ví dụ như là một sub-product (sản phẩm nhánh) hay một hay những phiên bản (variant) cho tới mức độ một sản phẩm khác biệt nhưng cùng một cat (category) như đối với X-men dầu gội sang X-men sữa tắm. Hay là cấu trúc tên gọi của các gói dịch vụ tín dụng khác nhau trong cùng một sản phẩm ngành ngân hàng. Tuy nhiên mức độ mở rộng đôi khi vượt ra khỏi (spin-off) ranh giới ngành hàng. Điều này đã xảy ra trong những trường hợp mà thương hiệu đã có được một sức mạnh thực sự. Đó là tình huống FTV (Fashion TV) hay được gọi là thương hiệu “F”, với mức độ biến thiên (spin-off) rất rộng từ Người mẫu (F-people), Giải trí (F-party), các Dịch vụ (F-café) … cho đến rượu vodka với thương hiệu F-vodka đang hot không kém mấy so với Absolut lừng danh.

Ưu điểm:

Đặc điểm quan trọng nhất của Line Branding là dựa vào lợi thế chinh phục khách hàng mục tiêu sẵn có của thương hiệu để mở rộng các sản phẩm khác phù hợp với nhóm khách hàng. Công thức này trước đây thường gọi là “sản phẩm mới cho thị trường hiện có”. Dưới quan điểm của các nhà hoạch định tài chính thì phương thức này chứng tỏ nhiều ưu điểm, bởi line extension khai thác tối đa giá trị hiện có của thương hiệu mà “theo tính toán” các giám đốc tài chính thường cho thấy việc đầu tư một nhãn hiệu mới ắt hẳn là tốn kém hơn so với việc khai thác một nhãn hiệu sẵn có đã nổi tiếng.

Do thương hiệu hình thành từ cơ sở thấu hiểu nhóm người tiêu dùng mục tiêu, cho nên sự mâu thuẫn về nhận thức giá về cơ bản sẽ không xảy ra.

Nhược điểm:

Nếu lạm dụng Line Extension. hình ảnh Thương hiệu rất có nguy cơ bị loãng. Lý do là vì mặc dù các dòng sản phẩm xem ra đều đáp ứng đúng nhu cầu của cùng một nhóm khách hàng mục tiêu, nhưng tính cách của từng thương hiệu con chưa chắc đã giống hệt nhau. Tình huống mà chúng ta có thể tham khảo là cặp thương hiệu “Number 1 – Nước tăng lực” và “Number 1 – Sữa đậu nành”. Mâu thuẫn tiềm tàng trong tính cách của hai thương hiệu sản phẩm nói trên, một là nước tăng lực với giá trị lõi (core value) “nam tính khoẻ mạnh”, một là sữa đậu nành với “giá trị thiên nhiên, sự nhu hoà” có thể sẽ dẫn đến sự tồn tại thành công của chỉ một trong hai thực thể mâu thuẫn nói trên mà thôi, tùy vào hình ảnh (giá trị) nào được xác lập mạnh hơn trong tâm trí khách hàng. Điều này sẽ dễ dàng nhận thấy hơn khi so sánh với các thương hiệu cạnh tranh tương tự. Chẳng hạn bạn có thể so sánh tương quan giữa ‘Number 1 – Sữa đậu nành’ với ‘Tribeco – Sữa đậu nành’.

3. Kiến trúc theo nhóm ngành hàng (range branding)

Kiến trúc thương hiệu theo nhóm sản phẩm (product range) có một năng lực định vị mạnh mẽ đối với các sản phẩm trong cùng một nhóm. Kiến trúc thương hiệu theo nhóm sản phẩm cho phép tận dụng tối đa tên thương hiệu và hình ảnh thương hiệu đồng thời là cơ sở để xây dựng chiến lược truyền thông hiệu quả bao trùm tất cả các sản phẩm trong một chủng loại.

Chúng ta có thể tham khảo thương hiệu Dielac của Vinamilk. Dielac được khai thác tối đa gắn vào nhóm sản phẩm dinh dưỡng từ sữa và chỉ giới hạn trong nhóm sản phẩm dinh dưỡng thuần tuý mà thôi. Ý đồ (khái niệm) này đã hình thành và nhất quán ngay từ khi hình thành dòng sản phẩm và tên thương hiệu Dielac. Range Branding hay Product Branding khác nhau chủ yếu có lẽ là ở ý thức chiến lược. Chẳng hạn khi Sony đầu tư vào lĩnh vực nhiếp ảnh, đã hình thành ngay từ đầu các dòng Cyber-shot và Alpha; trong đó Cyber-shot (đối diện với Canon Power-shot) dành cho giới nghiệp dư và bán chuyên, còn Alpha là dòng máy ảnh từ bán chuyên cho tới chuyên nghiệp (DSLR) mà mức độ phát triển nhanh chóng đến mức chỉ trong vài năm đã được sánh ngang với Nikon và Canon.

Trong mô thức range branding, ý thức về tính nhất quán trong sự hình thành nhóm (range) ắt hẳn phải cao hơn mô thức product branding truyền thống. Thông qua hai ví dụ của Vinamilk > Dielac và SONY > Alpha chúng ta thấy rõ vai trò của một những cái tên thương hiệu độc lập và nổi bật, thậm chí đến mức người ta không cần gọi tên “thương hiệu mẹ” của chúng nữa. Một tập đoàn phát triển bất động sản thường hay thiết lập các dòng (range) như: cao ốc văn phòng (office building), căn hộ cao cấp (condominium) và trung tâm thương mại (commercial center) mặc dù hiện nay các nhà phát triển bất động sản Việt Nam chưa ‘thương hiệu hoá’ các dòng sản phẩm này một cách chuyên nghiệp.

Ưu điểm:

Kiến trúc thương hiệu theo nhóm, hay chủng loại sản phẩm (product range) hình thành dựa trên một product concept (khái niệm sản phẩm) hoàn hảo ngay từ đầu và điều quan trọng hơn đó là product concept luôn được duy trì nhất quán hơn trong suốt quá trình phát triển của thương hiệu, so với phương thức (product) line extension nói trên. Cơ cấu định vị đa sản phẩm được nghiên cứu ngay từ đầu khi xác lập bộ khung cơ cấu chiến lược cho sản phẩm.

Giới hạn:

Các nghiên cứu hành vi người tiêu dùng có một kết luận quan trọng về khả năng nhớ của con người, thông thường có thể phản xạ tối ưu nhất với 7 yếu tố. Do vậy mà một nhóm sản phẩm có cùng tên nhãn chính và 7 tên nhãn phụ hầu như là một mô thức hữu hiệu. Vượt ra ngoài giới hạn 7 nhãn phụ (sub-brand) sẽ gặp nguy cơ pha loãng giá trị gốc của thương hiệu. Nhận xét này cũng đúng đối với phương thức gắn nhãn mở rộng (line extension). Đối với việc quản trị công ty hay tập đoàn cũng vậy một khi mà sự mở rộng đa lĩnh vực vượt khỏi một mức tới hạn nào đó, người ta lại có ý thức làm mạch lạc hoá cấu trúc ngành nghề thay vì có vài chục tổng công ty hiện nay Petro Việt Nam tái cấu trúc còn lại sáu tổng công ty chính và trên mười đơn vị thành viên khác.

4. Kiến trúc hình cây dù (umbrella branding)

Đây là trường hợp mà thương hiệu chính ‘bao trùm’ và dùng cho hầu hết tất cả các sản phẩm của một công ty. Ví dụ điển hình là CanonMercedes BenzPanasonic. Từ năm 2000, hãng Matsushita đã quyết định xóa sổ dòng thương hiệu National vốn được gắn cho nhóm điện tử “hàng trắng” (tức nhóm điều hòa, tủ lạnh và đồ gia dụng) nhập chung với Panasonic (vốn là thương hiệu dòng black goods) và hình thành một nhãn duy nhất.

Vai trò umbrella brand cũng thường được dành cho thương hiệu công ty. Mô hình này cũng đang tồn tại trong những nhóm ngành hàng mà mức cạnh tranh thương hiệu vẫn còn thấp. Tuy nhiên cần thấy rằng đây là phương thức cổ điển và có thể dễ dàng bị phá vỡ theo cạnh tranh. Cơ cấu thương hiệu của SONY là sự kết hợp hài hoà giữa product range và umbrella brand, được thấy rõ bởi SONY là một umbrella điển hình, còn các range brand có thể kể Bravia, Playstation, Anpha & Cybershot (máy ảnh)… Tập đoàn FPT vốn hình thành một kiến trúc cây dù, tuy nhiên trong một tương lai không xa có lẽ FPT sẽ hình thành thêm những thương hiệu nhánh (range product brand) hay thương hiệu ngôi sao (niché, star brand).

Trong tư duy kiến trúc thương hiệu hình cây dù, thương hiệu mẹ hay masterbrand là tối cao, và mọi nỗ lực truyền thông quảng bá đề nhằm xây dựng thương hiệu lớn (masterbrand). Cần lưu ý rằng không phải tất caœ các thương hiệu tập đoàn đều áp dụng kiến trúc cây dù. Unilever là một điển hình, mặc dù bản thân Unilever là một thương hiệu nổi bật nhưng hầu hết các sản phẩm đều mang những thương hiệu riêng biệt.

Ưu điểm:

Lợi ích nổi bật nhất đối với umbrella brand là khả năng tập trung nguồn lực vào trong một thương hiệu lớn, có thể kiêm luôn cả chức năng thương hiệu công ty hay tập đoàn.

Bất lợi:

Về mặt pháp lý các nhãn hiệu con (sub-brand) tự nó không thể đứng độc lập, ví dụ dòng sản phẩm cụ thể như S320 của Mercedes; dòng máy in BJC-2100SP Printer của Canon… Ngay cả Mercedes Benz trong những thập kỷ rất gần đây đã ý thức sự bất lợi của mô hình Umbrella, và đã hình thành cơ cấu định vị hợp lý với 3 dòng S-Class, E-Class và C-Class (trong tương lai sẽ là A-Class) với những tiêu chí định vị rõ ràng.

Và một khi các dòng nhãn hiệu con đi đến một giới hạn về: hình ảnh, cá tính, tính năng sản phẩm khác biệt hay quan trọng nhất, nhắm đến một nhóm khách hàng hoàn toàn mới thì khi đó cần thiết phải xây dựng thêm các hình thái kiến trúc mới, chẳng hạn như hình thành một dòng nhãn hiệu mới hoàn toàn như trường hợp Lexus của Toyota. Vì vậy chúng ta không thể áp dụng mô thức Umbrella một cách máy móc và thiếu cân nhắc, cần nhận biết rõ khi nào phải tạo ra một thương hiệu độc lập, và nhận thức sự hạn chế của umbrella đối với các dòng sản phẩm tiềm năng. Nhất là khi mà đối thủ đã mạnh dạn tạo ra một dòng thương hiệu (độc lập) mới, đó là lúc cần phải xem lại toàn bộ cấu trúc hiện tại của mình nếu không quá muộn.

5. Kiến trúc chia sẻ thương hiệu (shared branding)

Phương thức chủ đạo của phương pháp chia sẻ thương hiệu là sử dụng một Thương hiệu mạnh khác gắn tên sản phẩm của mình vào. Mô thức này phổ biến trong quá trình nhượng quyền thương hiệu.

Microsoft Window là trường hợp tiêu biểu của shared branding. Thương hiệu sản phẩm đối tượng chính là Window luôn xuất hiện với sự bảo trợ song hành một cách mạnh mẽ và trực quan bởi thương hiệu mẹ là Microsoft. Hơn nữa trong quá trình tồn tại của cặp thương hiệu chúng ta thấy có sự chia sẻ giá trị hay bảo trợ lẫn nhau giữa hai thực thể nhãn hiệu.

Khi thương hiệu James Bond đã nổi tiếng, người ta nghĩ ra các phương thức khai thác giá trị thương hiệu James Bond vào rất nhiều sản phẩm khác nhau, nhắm vào cùng nhóm khách hàng của James Bond gốc (những người thích phim James Bond). Điển hình của việc chia sẻ nhãn hiệu James Bond là các đồ dùng cá nhân mang ấn tượng nam tính (bật lửa, đồng hồ, dây nịt, ví da…). Đây chính là cơ hội kinh doanh cho những nhà sản xuất và kinh doanh nhỏ không đủ khả năng xây dựng hay sở hữu một thương hiệu mạnh.

Ưu điểm:

Có lẽ ưu điểm đáng kể nhất của phương thức này là sự tiết kiệm chi phí ban đầu. Trong tình huống sống còn của doanh nghiệp ở những thời điểm nhất định, phương thức này vẫn đáng để xem xét. Trong trường hợp hai hay nhiều doanh nghiệp có một cơ chế sở hữu “song hành” đối với một thương hiệu, với sự phân định sản phẩm, ngành nghề kinh doanh rõ ràng; hoặc là trong cơ chế “thương hiệu tập thể” của các hiệp hội ngành nghề; phương thức chia sẻ thương hiệu sẽ chứng minh được sức mạnh của nó.

Nhược điểm:

Cách thức chia sẻ thương hiệu cũng được xem như một phương pháp tung sản phẩm mới hiệu quả. Tuy nhiên nó có thể sẽ bộc lộ nhược điểm trong suốt thời gian sống lâu dài của thương hiệu sản phẩm sau này.

Hạn chế rõ rệt nhất của phương pháp này đó là thương hiệu mới không có đủ một thực thể hoàn chỉnh về hình ảnh cá tính của mình, xét cả về mặt pháp lý, để được tồn tại và phát triển độc lập.

6. Kiến trúc bảo chứng thương hiệu (endorsement branding)

Thương hiệu bảo trợ (hay bảo chứng) có một đặc điểm rất dễ phân biệt đó là nó không gắn liền trong tên gọi của thương hiệu sản phẩm tạo ra một thực thể độc lập mà thường nó đứng riêng hay tách rời khỏi nhóm tên nhãn hiệu sản phẩm. Ví dụ nhãn hiệu Unilever không gắn liền vào tên thương hiệu sản phẩm (OMO, hay P/S) mà được gắn ở một góc bao bì, hay một góc màn hình TV ở cuối các đoạn hình ảnh quảng cáo truyền hình. Về mặt pháp lý một endorsement brand là độc lập với thương hiệu mà nó bảo chứng.

Trong tình huống nêu trên, thương hiệu bảo trợ (endorser brand) là Unilever và thương hiệu được bảo trợ (endorsee brand) là OMO hay P/S. Các nhãn OMO hay P/S tự nó đã có vị trí độc lập cả về mặt pháp lý nhãn hiệu. Trong thực tế có nhiều hình thức và mức độ bảo chứng đa dạng và với nhiều mục đích khác nhau.

Nhận xét:

Thương hiệu bảo trợ thường đóng góp vào việc khẳng định uy tín hay lời cam kết về chất lượng và uy tín kinh doanh với khách hàng (nhà phân phối, nhà bán lẻ). Đối với công chúng người tiêu dùng, có khi người ta không nhận rõ vai trò của nhãn bảo trợ, nếu không có những thông điệp đúng và lượng truyền thông thích đáng. Bảo trợ Thương hiệu cũng được áp dụng vào phương thức kinh doanh nhượng quyền; trong mua bán và sáp nhập thương hiệu hay mua bán sáp nhập doanh nghiệp.

Mức độ bảo trợ thương hiệu rất khác nhau, nhà quản trị và các chủ thương hiệu cần phân tích kỹ các tác động tích cực và tiêu cực trong các mức độ đó để xác lập cơ chế phù hợp, dựa trên các yếu tố ảnh hưởng như tài chính, khách hàng, hình ảnh thương hiệu, cơ cấu định vị, các nguồn lực cần thiết trong phát triển.

7. Mô thức gắn nhãn công ty (corporate branding)

Có một xu hướng đáng kể trong việc áp dụng các thương hiệu tên công ty vào các dòng sản phẩm mà điển hình gần đây là chiến lược tập trung hóa của Proctor & Gamble (từ thời A.G. Lafley). Những lý do hình thành xu hướng nói trên bao gồm: (1) Tập trung giá trị gốc và uy tín của thương hiệu công ty để bao bọc lấy thương hiệu sản phẩm; (2) Người tiêu dùng tin tưởng và không bị nhầm lẫn, nếu họ đã tin vào Thương hiệu Công ty; (3) Có nhiều cơ hội mở rộng thương hiệu và khả năng tiết kiệm ngân sách quảng cáo; (4) Có thể giúp gia tăng giá trị của thương hiệu công ty thể hiện bằng các chiến lược quản bá thương hiệu tổng thể của công ty và hoạt động quan hệ cộng đồng.

Ngài Akio Morita, người sáng lập tập đoàn và thương hiệu Sony đã từng nói: “Tôi luôn luôn tâm niệm rằng Thương hiệu Công ty là cuộc sống của cả doanh nghiệp. Thương hiệu mang trách nhiệm và cam kết bảo đảm chất lượng cho các sản phẩm“.

Tinh thần của Corporate Branding không chỉ thể hiện ở chiến lược định vị thương hiệu sản phẩm mà cần chú ý hơn, đó là “ý chí” phát triển một “tập đoàn” dưới cùng một ngọn cờ thương hiệu, tập trung sức mạnh vào một thương hiệu lớn duy nhất. Tinh thần này có thể được nhìn thấy ở Sony, Samsung, Nokia và Virgin Group.

“Thương hiệu Công ty là cuộc sống của cả doanh nghiệp. Thương hiệu mang trách nhiệm và cam kết bảo đảm chất lượng cho các sản phẩm” – Akio Morita, người sáng lập tập đoàn và thương hiệu Sony

Vấn đề quản trị chiến lược mở rộng cơ cấu thương hiệu

Không một thương hiệu đơn lẻ nào có thể bao phủ tất cả mọi ngóc ngách của thị trường và khách hàng mục tiêu khác nhau. Một chiến lược cơ cấu thương hiệu hợp lý giúp doanh nghiệp tận dụng tối đa năng lực cạnh tranh và chiến lĩnh thị trường với mức độ rộng khắp, chinh phục khách hàng ở nhiều khúc tuyến khác nhau: khách hàng công ty (B2B) hay l khách hàng tiêu dùng (B2C); khách hàng công nghiệp hay khách hàng đại chúng…

Tuy nhiên “không có một mô thức định sẵn cho việc áp dụng kiến trúc thương hiệu!”

Điển hình của quyết định chiến lược cơ cấu nhãn hiệu linh hoạt là tình huống Toyota khi hình thành dòng nhãn hiệu xe hơi cao cấp Lexus. Hiện nay trong thị trường xe hơi, có thể nhật xét rằng Toyota là tập đoàn áp dụng chiến lược cơ cấu & kiến trúc thương hiệu một cách vừa sâu sắc nhất quán, lại vừa linh hoạt và uyển chuyển giữa chiến lược toàn cầu và chiến lược tại từng địa phương. Điều này đã giúp Toyota phát triển vượt qua hãng Ford lừng danh để dành vị trí thứ hai và tiếp tục thách thức vị trí dẫn đầu toàn cầu.

Nestle tập trung vào cơ cấu 10 thương hiệu toàn cầu (global brand) với những điều chỉnh và ngoại lệ áp dụng trong một số trường hợp ở một vài địa phương, nơi mà các thương hiệu toàn cầu không thể thoả mãn cơ cấu thương hiệu tại thị trường địa phương, xét dưới những góc độ chẳng hạn như pháp lý, ngôn ngữ & văn hóa, các thương hiệu cạnh tranh, và mức độ đa dạng về nhu cầu tại thị trường bản địa.

Trong không ít thời điểm cả P&G lẫn Unilever đều lúng túng trước việc có quá nhiều nhãn hiệu. Chẳng hạn vào năm 1995 Unilever có trên 1000 nhãn hiệu trên phạm vi toàn thế giới. Ngày nay có không ít nhãn hiệu của P&G và Unilever đã bị loại bỏ hoặc duy trì ở cấp độ địa phương và các tập đoàn này đang cố gắng hình thành một cơ cấu thương hiệu toàn cầu với số lượng và tên nhãn hợp lý hơn và có những hướng dẫn cụ thể mang tính chiến lược cho các nhà quản trị cấp địa phương hoạch định chiến lược cơ cấu thương hiệu phù hợp cho thị trường mỗi Quốc Gia, nhằm mục đính tập trung nguồn lực cho các thương hiệu mạnh và có giá trị ngày càng cao. Chẳng hạn các thương hiệu có cùng một công dụng sản phẩm và khách hàng mục tiêu là OMO và Comfort; Tide và Downy gần đây có khuynh hướng nhập chung vào nhau.

Cấu trúc tên và nhận diện thương hiệu

Cấu trúc tên thương hiệu và cấu trúc nhận diện thương hiệu cũng là một phần trong tổng hoà khái niệm cấu trúc thương hiệu.

  1. Cấu trúc tên

Cấu trúc tên hình thành theo các mô thức gắn nhãn như đã trình bày. Đây là cấp độ cấu trúc cơ bản của mọi hệ thống thương hiệu.

  1. Cấu trúc nhận diện sơ cấp

Là sự hình thành các yếu tố nhận diện sơ cấp, bao quanh tên thương hiệu. Bao gồm Logo riêng biệt, trong đó bộ ba “màu sắc – hình nét – chữ viết” luôn luôn là yếu tố nhận diện sơ cấp và không thể thiếu đối với một thương hiệu hay một hệ thống thương hiệu mạnh.

  1. Cấu trúc nhận diện thứ cấp

Một yếu tố nhận diện được cho là ‘thứ cấp’ khi mà nó không thuộc tập hợp của bộ ba cơ bản (hay sơ cấp) như trên nhưng vẫn luôn luôn xuất hiện đồng hành với ‘bộ ba’ các yếu tố nhận diện cơ bản. Chẳng hạn nếu chúng ta ‘lặp lại’ một yếu tố màu sắc, hình ảnh vào thiết kế bao bì hay môi trường giao tiếp thương hiệu thì được xem là một yếu tố nhận diện thứ cấp.

  1. Cấu trúc nhận diện trừu tượng

Bao gồm các dạng thức nhận diện thương hiệu mang tính trung gian làm cầu nối liên kết giữa thương hiệu công ty và các thương hiệu trực thuộc là công ty con hay các dòng sản phẩm. Ngoài ra còn hình thành những ‘thương hiệu hình tượng’ hay mascot thương hiệu để liên kết các thương hiệu với nhau và giao tiếp với môi trường bên ngoài.

Nguồn: Brandsvietnam

Có thể bạn quan tâm: 

>> Đừng vội tin vào 9 điều sau khi làm Digital Marketing

>> Đừng mải chạy theo Digital mà quên mất các kênh Offline

>> Khẩu vị người Việt: Trà hay Cà phê?